Tương lai nào cho Giáo triều Vatican và Giáo hội nhà nước Việt Nam? (Kết)

Nguyễn Văn Lục

vnNgười viết xin kể một câu chuyện ngược dòng thời gian như một bằng cớ của tình trạng băng chứng của giáo triều ngay thời kỳ J.P. II.

Alfredo Ormando và lời cuối của ông. Nguồn: www.rmnetwork.org

Alfredo Ormando và lời cuối của ông. Nguồn: www.rmnetwork.org

Vào ngày 13 tháng Giêng, năm 1998, vào lúc 8 giờ sáng, có một người đàn ông, gốc Sicile. Tên là Alfredo Ormando, 39 tuổi, lén vào công trường thánh Phê rô, lúc này hoàn toàn vắng người. Anh ta đã cởi chiếc áo khoác ngoài, lôi ra một bình xăng và tưới lên khắp người, tự đốt cháy. Anh ta trông giống như một ngọn đuốc lớn di chuyển về phía đền thờ. Một người đàn bà làm công việc quét dọn đã vội chạy đi báo cho hai cảnh sát. Cảnh sát đến kịp lúc khi Alfred Ormando bắt đầu bước lên bực thang của đền thánh Phê Rô. Cảnh sát đã kịp thời dập tắt ngọn lửa.

Họ đã đưa Alfred vào một nhà thương gần đó. Nhưng 10 ngày sau, Alfred đã chết.(9)1.

Sau này, người ta tìm thấy trong túi áo choàng của Alfred một bức thư giải thích vì sao anh đã tự thiêu vì anh là người đồng tính nên bị gia đình và xã hội ruồng bỏ. Nhất là xã hội Ý nơi một làng hẻo lánh của Sicile. Người ta còn đồn còn có một bức thư thứ hai gửi Giáo Hoàng. Nhưng sau này khám phá ra đó chỉ là một thư giả.

Cho dù thư gửi giáo hoàng là một thư giả thì việc Alfred chọn lựa tự thiêu ngay tại trước đền thờ thánh Phê Rô cũng là một chọn lựa có ý nghĩa. Đối với Giáo quyền Vatican, Sự liên hệ giữa người cùng phái là một điều xấu xa tự bản chất (intrinsically evil).

Phần các người đồng tính cũng như các vận động cho quyền của người phụ nữ bắt buộc họ phải lựa chọn giữa lương tâm của họ và giáo hội.

Những người không có khả năng chọn lựa như nhà văn(10) Alfred Ormando thì đã phải tìm đến cái chết như một lời cảnh báo.

Theo người viết thì sự từ chức của vị giáo hoàng thuộc thành phần trí thức nhất của giáo triều Vatican vì tự cảm thấy nỗi bất lực không có thể giải quyết được những vấn đề của thời đại mình?

Chọn lựa từ chức là một chọn lựa có trách nhiệm mà ít khi nào một việc như thế đã xảy ra.

Và nếu để tóm tắt sự nghiệp của triều đại Giáo Hoàng Benedict 16, có thể nói rằng ngài là người trí thức dám đứng thẳng kiên cường với những tầm nhìn lịch sử về giáo hội, chấp nhận đương đầu với những phản ứng ngược chiều của các vị trong giáo triều, hy sinh ngay cả sự thông minh riêng của ngài để có thể phục vụ giáo hội.

Người ta có thể chất vấn ngài về chính sách đường lối của giáo hội, nhưng không thể nghi ngờ về lòng trung tín của ngài đối với giáo hội.

  • Giáo Hoàng Francis

Giáo hoàng Phanxicô nói rằng ông sẽ cho phép tất cả linh mục quyền chính thức tha thứ cho những phụ nữ đã phá thai và được xá tội trong năm đặc biệt cỉa Giáo hội Công giáo “năm của lòng thương xót”. (Reuters)

Việc bầu một người như Giáo Hoàng Francis từ một nước tương đối ở xa vùng ảnh hưởng của Italia và các nước Âu Châu cho thấy có dấu hiệu chuyển trục. Và kết quả bầu chọn Giáo Hoàng Francis rất gần với tinh thần Thần Học Giải Phóng khởi lên từ Brasil. Phải chăng việc chọn lựa giáo hoàng Francis lên ngôi vị giáo hoàng như thổi một luồng gió mới về một giáo hội của người nghèo vốn trước đây chỉ có trên giấy tờ? Với việc chọn giáo hoàng Francis, tiếng nói từ giới thợ thuyền, giới bình dân được lưu tâm tới nhiều hơn và phải chăng đây là một chọn lựa khôn ngoan của các vị hồng y vốn là đại diện chung của giáo hội hoàn vũ?

Và trong tương lai không xa, ưu thế số giáo dân đông đảo từ các nước Mỹ Châu La Tinh sẽ có một ảnh hưởng không nhỏ đến việc chọn lựa một giáo hoàng?

Nước Ý sẽ dần mất ảnh hưởng truyền thống lâu đời vốn là nơi sản xuất ra giáo hoàng trong nhiều thế kỷ?
Hội đồng hồng y đã chọn một con người đức hạnh, khôn ngoan và can đảm. Nói nôm na, họ đã chọn một người quét dọn vườn tược cho sạch.

Giáo hoàng Francis muốn thay đổi nột nếp sống và chọn lối sống thanh bạch khi lần đầu tiên bước vào điện Vatican.

Từng cử chỉ một, từng sự chọn lựa từ đôi giầy không phải mầu đỏ như thông lệ đến áo choàng, đến chiếc xe hơi di chuyển hằng ngày đến chỗ cư trú.

Ngài đều muốn gửi một thông điệp gián tiếp từ những cử chỉ nhỏ đó. Này. Hãy xem một gíao hoàng sống như thế nào? Ngay lập tức, những cử chỉ ban đầu ấy gây được chú ý nơi mọi người. Và có một sự tín nhiệm của giáo dân như một phiếu tín nhiệm lần thứ hai sau cuộc bầu cử.

Vì thế, mới đây trong chuyến bay từ Brazil trở về Vatican, giáo hoàng Francis khi được hỏi về người đồng tính. Ngài cho rằng: Đừng nên gạt người đồng tính ra ngoài mà nên nhìn nhận họ. Ngài còn nói thêm

“Tôi là ai để có thể phán xét những người đồng tính.”

Không còn coi người đồng tính như một thứ điều xấu tự bản chất như giáo triều dưới thời Benedict 16.
Ngoài vấn đề đồng tính, giáo hội còn gặp rất nhiều khó khăn trong những vấn đề xã hội. Riêng Giáo Hoàng Francis đã thiết lập tòa án để xét xử các vị lãnh đạo cao phạm tội tình dục đối với trẻ em.

Có tội hình sự thì phải ra tòa và chịu sự phán xét của tòa án và công luận. Sẽ không có một hình thức bao che nào nữa như trong quá khứ.

Ngài cũng chứng tỏ phải sống thanh bạch, sống khó nghèo trong vai trò mục tử.
Tuy nhiên, thành phần bảo thủ trong nội bộ tòa thánh không phải là ít.

Trong một thông điệp tiền Giáng Sinh -22-12- ngài đã phê phán gay gắt tính chất quan liêu trong giáo triều và gọi là Bệnh Alzheimer tinh thần. Và ngài nói thêm có 15 căn bệnh mà ngài muốn chữa trị trong năm mới. Ngài yêu cầu cải cách Giáo triều.

Cả một cử tọa ngồi im.

Phóng viên BBC, từ Rome, David Willey bình luận: “Rõ ràng Giáo Hoàng Francis đã gặp phải sự chống đối trong số gần 3.000 thành viên của Giáo triều mà đa số là người Ý.”(11)

Giáo Hoàng sẽ còn gặp nhiều những trở ngại và những phần tử bảo thủ cản đường nên đã có lúc ngài ám chỉ rằng việc ngồi ở lại ngôi vị giáo hoàng có thể không lâu.

Để kết thúc phần này thì tôi tự hỏi 15-20 năm nữa, giáo hội từ Vatican sẽ đi về đâu và như thế nào? Nếu thiếu sự cải tổ sâu rộng cả về mặt tổ chức lẫn thể thức bầu giám mục! Câu trả lời là thật không dễ.

Chẳng hạn ai có thời giờ ngồi đọc đầy đủ bộ sách liên quan đến Giáo Hội Việt Nam và người Pháp như các tài liệu: Annnam et Indo-Chine Francais: I, Esquisse de l’histoire d’annam, II, Rôle de la France en Indochine, hay Lettres Edifiantes et Curieuse: Écriture des Missions Etrangères. Volume 21 cũng đủ thấy hết mặt trái, mặt phải của vần đề thế nhân thường tình.

Giáo hội ấy cho thấy rõ mặt yếu của nó: Một giáo hội sơ khai trung thành với giáo sĩ Tây Phương một cách tuyệt đối. Sự trung thành – trong đó chính là tinh thần lệ thuộc – ấy bị đồng hóa và được coi là khi trung thành với các thừa sai ngoại quốc là một hình thái gián tiếp trung thành với Giáo Hội mẹ là Vatican. Mà thực chất Giáo Hội của các giáo sĩ người Âu Châu chỉ là một phần tử của Giáo Triều Vatican.

Nhưng dù sao thì điều ấy – đặt mình vào thời đại ấy – vẫn có thể hiểu được. Giáo hội Việt Nam còn non trẻ, chưa trưởng thành, số linh mục còn quá ít ỏi, số người hiểu biết đạo đếm trên đầu ngón tay.

Còn Việt Nam, trước cơn bão dân chủ tại Đông Âu? Ngược lại, Việt Nam cố bưng bít, chống lại khuynh hướng đa nguyên, đang ‘cởi’, rồi ‘trói’ lại bằng những phản ứng rất lạc điệu như kiểm soát và siết chặt hàng ngũ. Trong suốt ba năm biến cố Đông Âu từ 1989 đến 1991 khi Đông Âu sụp đổ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đứa con cô đơn, lạc lõng mà mục đích duy nhất là giữ gìn đảng bất chấp xu hướng thời đại.

Phần công Giáo Việt Nam đã làm gì? Phản ứng như thế nào? Có bắt được tín hiệu thời đại đó hay không? Theo tôi là không. Không làm gì cả, thụ động nhìn ngó sự chuyển động trên thế giới. Chẳng những không đừng sợ mà còn sợ thêm. Sợ đến liệt vị, đến mất cả tính người.

Và trong suốt 27 năm Giáo Triều của Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ nhị. Mỗi một lời nói của ngài, mỗi bước chân ông đi tới đâu, có sức thu hút hàng triệu người, nhất là giới trẻ.

Thông điệp tin mừng phấn khởi làm chuyển động thế giới, nhất là Đông Âu như những cơn gió vũ bão. Những cơn gió bão ấy, tiếc thay khi đến Việt Nam chỉ còn là những cơn gió thoàng phe phẩy một giáo hội với những người lãnh đạo buồn thiu.

Sợ vẫn sợ, im lặng vẫn im lặng. Người viết xin kể một câu chuyện ngược dòng thời gian của nhiều năm trước như một bằng cớ của tình trạng băng cứng của giáo triều ngay thời kỳ J.P.II.

Nguồn: christopherblosser.blogspot.com

Nguồn: christopherblosser.blogspot.com

Giáo hội Công giáo Việt Nam thông qua Hội Đồng Giám mục

Trong 40 năm giáo hội công giáo Việt Nam- qua trung gian Hội Đồng giám mục – kể từ năm 1975 – họ đã ứng xử như thế nào trong suốt những năm ấy? Họ đã học được gì từ kinh nghiệm của giáo triều Vatican cũng như những tấm gương sáng của một số Giáo hoàng?

Có thể có một câu trả lời vắn gọn như sau:

  • Ba mươi năm đầu: 30 năm khổ nạn và ẩn nhẫn

Có thể nói 30 năm đầu tứ 1975-2005 là 30 năm chịu nhiều thử thách và khốn khó nhất. Đó là 30 năm mà chính quyền cộng sản tìm mọi cách để trấn lột, bắt bớ giam cầm, tịch thu tài sản của giáo hội.

Cả một hệ thống tổ chức giáo hội xây dựng trong năm thế kỷ trong phút chốc tan rã.

Nghĩ tới điều này tôi cho là nỗi đau xót nhất và mất mát lớn lao nhất. Nhưng tôi có cảm tưởng ít có vị lãnh đạo nào lưu tâm đủ đến vấn đề này. Cả một tổ chức giáo hội và nhân sự bỗng chốc tan biến mất. Cả một nền văn hóa đậm nét Ki-tô giáo qua văn học, qua truyền thống nếp sống đạo mất theo. Cả một hàng ngũ linh mục biến chất từ cách ăn mặc đến ngôn ngữ, nếp sống, nếp nghĩ và cách ứng xử thay đổi.

Có thể nói ta mất hết khi cộng sản vào. Không có một hình thức chống đối về tinh thần nào so với tinh thần giáo hội thầm lặng trước 1954 ở ngoài Bắc. Ít có một Hồng y như Trịnh Như Khuê, giám mục Phao Lồ Lê Đắc Trọng. Cũng hiếm có những gương mặt linh mục như Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Thông, Phạm Hân Quynh.

Sự mất mát là đồng loạt như các cartes đua nhau sụp đổ.

Tỉ dụ Dòng Mến Thánh Giá được thành lập từ năm 1670 ở giáo phận Đàng Ngoài và 1961 ở giáo phận Đàng Trong giây phút tan biến hết. Hình như rất ít người công giáo lưu tâm đến lịch sử giáo hội và mất hướng lịch sử, họ dễ dàng để mất hết mà không một lời luyến tiếc. Sự thiếu hiểu biết lịch sử gíáo hội ngay cả trong hàng giám mục cũng thờ ơ trước những mất mát lớn lao này.

Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất về sự mất mát này là các dòng tu, nhất là dòng các nữ tu. Có khoảng 30 chục dòng tu như thế không còn phương tiện sinh sống phải tự giải tán.(Trước 1975 có thể mở trường mẫu giáo, tiểu học, trung học để sinh sống). Sau 1975, các trường bị giải thể nên các bề trên một số dòng phải quyết định giải tán tu hội. Các bà sơ nhiều người đã lớn tuổi làm gì để sinh sống? Rồi vấn đề hộ khẩu? Họ phải bương chải mở cơ sở chăn nuôi, tiểu công nghệ sống qua ngà. Tôi có cảm thức hầu như không ai quan tâm đến số phận của họ. Không ai phản đối cũng không ai lên tiếng, chỉ biết cúi đầu im lặng. Hàng giám mục lúc ấy như con chim bị đạn chỉ biết co rúm lại tìm cách hộ thân.

Các chủng viện và các trường tư thục đều phải đóng cửa. Hầu như mỗi địa phận đều có Chủng viện và mỗi giáo xứ thường có một trường tiểu học và có nơi có trường trung học đều tự đóng cửa và hiến đồng loạt cho nhà nước Có khoảng 300 trường học thuộc giáo phận Sài gòn rơi vào trường hợp này.

Các cơ sở xã hội, các cơ quan truyền thông, các cơ sở nhà in, các nhà xuất bản đồng loạt đóng cửa. Chỉ duy nhất có tờ Đối Diện của hai linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan còn được xuất hiện và đổi tên là Đứng Dậy. Nhưng hoạt động không bao lâu sau cũng bị đóng cửa. Thay thế vào tất cả các cơ quan báo chí công giáo là tờ Công Giáo và Dân Tộc do một vài linh mục vốn là cộng sản như Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, v.v.

Cuối cùng là bắt bớ giam, cầm qua các vụ Nhà dòng Đồng Công ở Thủ Đức, vụ Đắc Lộ, vụ Vinh Sơn.(12)

Những mất mát vật chất như thế lấy gì bù lại được? Và còn những mất mát tinh thần thì sao?Trong khi đó, tiếng nói chính thức thông qua Hội Đồng Giám Mục Việt Nam là những ngôn từ trống rỗng, xưng tụng.

Nguồn: fearlessredemption.blogspot.com

Nguồn: fearlessredemption.blogspot.com

Không một tiếng nói can đảm nào dám cất lên trong 30 năm công giáo dưới chế độ cộng sản 1975-2005. Tôi lấy lại nhan đề cuốn sách của giám Mục Paul Léo Seitz, giám mục địa phận Kontum: Le temps des chiens muets. Thời đại của những con chó câm để diễn tả cái tình trạng đó! Cũng vẫn theo Giám Mục Paul Léo Seitz những con chó câm là tượng trưng cho những con người sợ không dám nói sự thật. Họ không dám cất tiếng nói nữa. Và đã có bao nhiêu con người-chó câm như thế?

Trong từng ấy năm tháng, từng ấy năm cúi đầu khuất phục. Giáo hội Việt Nam như tách ra khỏi Giáo Hội mẹ của họ.

GM Pau Léo Seitz (Phaolô Kim, 1906-1984)

GM Paul Léo Seitz (Phaolô Kim, 1906-1984). Nguồn: kontumquetoi.com

Lời kêu gọi: Các con đừng sợ trong dịp nhận chức của Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ nhị xem ra chẳng có kết quả gì. Sợ vẫn sợ.

Tuy nhiên, nếu lọc lựa chọn ra thì cũng có được một vài vị lãnh đạo tiêu biểu cho thời kỳ đen tối này. Tiêu biểu ở ngoài Bắc có Hồng Y Trịnh Như Khuê, Phan Đình Tụng, giám mục Phao Lô Lê Đắc Trọng. Trong Nam có Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền, Tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận, các linh mục như Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Lợi.

Kết thúc 30 năm sống dưới chế độ cộng sản Hà Nội là việc bổ nhiệm Phó giám Mục Mỹ Tho Phạm Minh Mẫn vào chức vụ Tổng giám mục thành phố Sài Gòn vào tháng 3-1998

Nó đánh dấu một giai đoạn dứt điểm mâu thuẫn giữa giáo hội công giáo và chính quyền và mở ra một giai đoạn lệ thuộc, giai đoạn đã được thuần hóa.

Nó chấm dứt những thời kỳ tranh cãi, phản đối nhùng nhằng qua lại về việc bổ nhiệm các giám mục như trường hợp Tổng giám Mục Nguyễn Văn Thuận rồi giám mục Huỳnh Văn Nghi kéo dài trong nhiều năm.

Nó cho thấy sự thắng lợi rõ rệt của chính quyền cộng sản quyết định can thiệp trực tiếp vào các quyết định bổ nhiệm chức giám mục của tòa thành. Vì vậy, sau khi được bổ nhiệm vào chức vụ mới này thì TGM Phạm Minh Mẫn trong việc làm đầu tiên của ông là đến gặp các chức sắc lãnh đạo thành phố.

Cử chỉ và việc làm này nó cho thấy sự công nhận gián tiếp vai trò chỉ đạo của nhà nước. Nội dung buổi gặp gỡ này thì không được rõ. Nó có phải như một cử chỉ cám ơn hay thái độ tuân phục thì thật sự không ai được biết.

Và từ khi ngồi vào cái ghế Tổng giám mục rồi Hồng y, vai trò của vị TGM này là dọn đường cho những kẻ kế thuộc lần lượt nắm giữ những chức vụ then chốt lãnh đạo hàng Giáo phẩm Việt Nam. Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn trong việc thay thế Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt. Trong Nam, Giám mục Bùi Văn Đọc lên kế nhiệm hồng y Phạm Minh Mẫn, Nguyễn Văn Khảm về Mỹ Tho, Nguyễn Thái Hợp ra Vinh.

Tôi nhớ lại khi vị giáo hoàng Phao Lô Đệ nhị đang nằm trên giường bệnh hấp hối. Hằng trăm ngàn người cầu nguyện cho ngài. Nhiều người thú nhận khóc như thể nhìn thấy gương mặt của ngài như thể nhìn thấy gương mặt của Chúa.

Đây là một so sánh rất công giáo. Người ta có thể nhìn thấy gương mặt của một mục tử để nhận ra đằng sau là gương mặt của Chúa.

Vậy thì ở Việt Nam, có bao nhiêu gương mặt mục tử của giáo hội Việt Nam giúp người ta nhìn nhận ra gương mặt của Chúa ?

Tôi không biết phải trả lời thế nào. Có chứ không phải không qua những người như Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Giám mục Michael Hoàng Đức Oanh, Kontum. Các linh mục dòng Chúa Cứu Thế như Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Văn Khải. Các linh mục đang tranh đấu khác như Phan Văn Lợi, Nguyễn Văn Giải, Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, Andre Đỗ Xuân Quế, dòng Đa Minh.

Ngoài ra, nhiều vị mà tôi không được biết đến sau này. Tuy nhiên, còn những vị chức phận cao nhất như: TGM Bùi Văn Đọc chăng? Không. Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, Nguyễn Văn Khảm chăng? Không. Hầu hết những người này là những Pharisieu thời đại. Còn nếu nhìn theo thói đời thì đó là những Nhạc Bất Quần thời cộng sản!

Nhiều người tưởng rằng nhận xét của tôi như thế là hồ đồ, vu oan cho họ? Không. Cách đây trên dưới 10 năm, tôi đọc được những lời tuyên bố đó đây của các giám Mục như Bùi Văn Đọc, linh mục Nguyễn Văn Khảm và linh mục Nguyễn Thái Hợp.

Tự nhiên tôi cảm nhận ngay được thế này thì không xong rồi và thầm nghĩ rằng sau này tương lai các vị này còn tiến xa hơn nữa. Tôi đã hỏi nhiều bạn bè thì đều có cảm tưởng là những người này với những câu nói dọn đường của họ, họ biết chắc và chờ đợi điều gì xảy đến cho họ.

Tôi đã không thể nào chịu đựng nổi khi nghe những bài giảng của Lm Nguyễn Văn Khảm xưng tụng Hồng y Phạm Minh Mẫn trong các dịp mừng 80 tuổi, hoặc mừng kỷ niệm hơn 20 năm làm giám mục và một số dịp khác. Tôi vẫn cố thu nhập xem công trạng của hồng y Phạm Minh Mẫn trong suốt những năm làm Tổng giám mục Sài Gòn, ngoài mấy công trình xây dựng lại đại Chủng viện thì còn gì nữa? Đã có lần nào dám hé răng lên tiếng bênh vực những lời kêu cứu của đồng bào, những nỗi oan của dân đen mất nhà, mất đất? Không. Không bao giờ. Họ bình chân như vại mặc ai đau khổ oan khiên. Mặc các giáo xứ bị chính quyền đàn áp.

Tôi cũng không thể nào nghe nổi những lời tuyên bố mang tính nịnh bợ chính quyền cộng sản của Tổng Giám Mục Bùi Văn Đọc khi sang Rô ma.

Quả y như rằng. Họ đã có những chỗ ngồi tốt nhất mà nhiều người mơ tưởng. Tại sao, tôi lại có thể tiên đoán trước được tiền đồ của các vị ấy như thế?

Trả lời câu hỏi này, tôi nghĩ là đã đến lúc phải thay thế cách thức chọn lựa giám mục. Cách chọn lựa giám mục Việt Nam là không ổn

  • 10 năm sau mới đây

30 năm sống trong lòng chế độ. Người công giáo cũng như lãnh đạo giáo hội hầu như đã thuộc bài. Họ như con ngựa đã thuần. Họ tấ cả bị điều kiện hóa. Conditionné.

Về điểm này, phải công nhận chế độ ấy đã uôn nắn con người đến sắt cũng phải mềm.

Năm 2005 đánh dấu bằng chân dung một Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt đầy hào khí mà 30 năm về trước liệu cũng không tìm thấy được một người.

TGM trở thành linh hồn của cuộc đấu tranh của Thái Hà dành lại đất của DCCT bị chính quyền lấn chiếm.

Trong suốt thời gian ngắn ngủi tranh đấu, Sài Gòn im lặng. Huế ngậm tăm. Sự mất đoàn kết trong Hội Đồng giám mục thấy rõ trong vụ Thái Hà. Đó là thái độ vừa mù vừa câm và điếc. Bên cạnh cuộc đấu tranh ấy, ngài còn phát biểu những câu nghe không lọt tai bọn sâu dân mọt nước. Chúng dùng cả bộ máy tuyên truyền của chính quyền Hà Nội ra rả chửi bới ngài mỗi ngay trong suốt cả tháng.

Và cuối cùng thì do áp lực từ nhiều phía, ngài đành phải rút lui ra khỏi giáo phận. Đây chứng tỏ một lần nữa giáo triều Vatican đã bán rẻ ngài.

Ngài đã vâng lời rút lui ở ẩn. Những linh mục dòng Chúa Cứu Thế như Vũ Khởi Phụng trở thành bơ vơ. Giáo dân như mất người chủ chăn tốt. Có những linh mục trẻ phải tìm đường ra nước ngoài như linh mục Nguyễn Văn Khải.

Nhưng xin nhắc nhở họ, giáo hoàng Benedicto XVI đã cảnh cáo thái độ đồng lõa im lặng này (Complicité du silence) như sau:

‘Tôi có biết một số giám mục đã thú nhận ở chỗ riêng tư là các vị ấy đã quyết định khác với những quyết định riêng của chính họ khi ra trước Hội đồng giám mục. Họ đã chấp nhận cái luật của nhóm (Loi du groupe) để tránh bị phiền nhiễu, tránh bị coi là người gây rối, tránh bị coi là đầu óc chật hẹp, chậm tiến vv. Thật là tốt đẹp biết bao khi mọi người đều có quyết định chung. Nhưng đã biết bao lần những quyết định chung đó chỉ nhằm che dấu những điều xấu, những xi căng đan, sự sai lạc phúc âm, muối và men bột.”(13)

Sau vụ TGM Ngô Quang Kiệt bị cho nghỉ hưu sớm. Giáo Hội Việt Nam thực sự trở thành Giáo Hội nhà nước. Nếu Giáo Hội Phật giáo trở thành Giáo Hội nhà nước từ năm 1981 có tính cách định chế thì Giáo Hội công giáo cũng là một hình thức nửa giáo hội nhà nước, chưa có định chế. Chỉ còn một bước nữa nó sẽ được vinh dự định chế nếu nó thiếu cái dù bảo trợ đằng sau của Vatican.

Tiếng nói của họ – giám mục – không được chính quyền coi trọng.

Như trong việc đòi lại Giáo Hoàng Học Viện, Đà Lạt đã được chính thức chấp nhận về chủ quyền đất đai vĩnh viễn ngày 21-9-1964. Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn – nay là Hồng y – đại diện Hội Đồng Giám Mục chính thức chỉ đòi hỏi: Ngưng việc xây dựng công viên. Văn thư được gửi đi không được trả lời. Giám mục Nhơn trả lời phỏng vấn một cách hoàn toàn hờ hững và bất lực: Chúng tôi không thể nói gì hơn nữa. Và cuối cùng: Chúng tôi vẫn đợi.

Đợi đến bao giờ, thưa ngài Hồng y?

Hội nghị biểu dương gương người tốt, việc tốt trong đồng bào Công giáo, giai đoạn 2010 - 2015, Bắc Giang. Nguồn: ubdkcgvn.org.vn

Hội nghị biểu dương gương người tốt, việc tốt trong đồng bào Công giáo, giai đoạn 2010 – 2015, Bắc Giang. Nguồn: ubdkcgvn.org.vn

Trong một bài giảng của linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, O.F.M vào ngày 29-9-2013, linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã không ngần ngại lên án những thái độ này và linh mục gọi là thái độ vô cảm.

Nhắc lại quá khứ, trước đây, trước 1975, khi còn trẻ, tôi thường có cái nhìn không mấy có thiện cảm với các vị thừa sai người Pháp, đôi khi còn có thái độ ác cảm.

Nay nhìn lại một cách công bằng, tôi nhận thấy phần đa số các thừa sai được gửi sang đây đều là những người hy sinh, thiện chí và có lý tưởng. Họ xứng đáng với vai trò những kẻ đi truyền giáo, những kẻ đi mở đường.

Hồi ký của những nhà truyền giáo như P. Dourisboure và C. Simonnet. M.E.P trong La Mission des grands Plateaux đã để lại biết báo nhiều những kỷ niệm phiêu lưu, mạo hiểm đầy can đảm và lòng tận tụy hy sinh của họ. Nó chẳng khác gì những cuộc chinh phục miền Viễn Tây của những người Mỹ xưa.

So các thừa sai này với những thành phần giám mục trong Giáo Hội nhà nước hiện nay thì quả đúng là một trời một vực. Họ không xứng đáng tiếp tục ngồi tại vị một cách vô trách nhiệm, không dám có một lời phản đối.

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu trong suốt 40 năm dưới chế độ cộng sản, Giáo hội Công giáo Việt Nam có còn cái tư thế độc lập với chính quyền, với nhà nước nữa hay không? Tương lai giáo hội sẽ như thế nào với một tập đoàn giám mục lãnh đạo chịu sự kiềm chế và lãnh đạo của cán bộ cộng sản?

Nếu nói sống đạo là sống vào niềm tin, làm thế nào để tôi có thể đặt để niềm tin của mình vào những người như Bùi Văn Đọc, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Thái Hợp?

Câu trả lời là càng ngày, tổ chức giáo hội thông qua Hội Đồng Giám Mục Việt Nam càng xa lầy, càng mất cái tư thế độc lập và càng bị định chế hóa bởi những quyết định của nhà nước cộng sản trong vấn đề giáo dục, truyền đạo và bổ nhiệm.

Nhiều dấu hiệu thông qua việc bổ nhiệm cho thấy đây là một dấu hiệu của một giáo hội nhà nước trá hình.

Khi một vị lãnh đạo biết mình không thể đảm đương được công việc giao phó một cách trọn vẹn thì nên từ chức. Nếu nghĩ được như thế thì nhiều giám mục trong HĐGM Việt Nam đã phải nộp đơn từ chức.

Tôi nghĩ đến trường hợp Hồng y Phạm Minh Mẫn.

Đối với vị Hồng y đã nghỉ hưu, tôi đã có dịp tìm hiểu gốc gác gia đình, những ngày vị này còn là Lm giáo Chủng Viện, rồi Phó Giám Mục Mỹ Tho, trước khi leo lên Tổng Giám Mục TP Hồ Chí Minh.

Ở cương vị linh mục, ngài có thể là một mục tử tốt, có lý tưởng.

Riêng linh mục Huỳnh Công Minh ngồi ở vị trí ấy từ năm 1975 đến nay tự nó ngồi lâu như thế đã một lỗi lầm rồi. 10 năm đã được kể là quá nhiều. Mà đến 40 năm chứng tỏ thành phố Hồ Chí Minh không còn ai. Hồng y Mẫn đã không đủ can đảm xô cái ghế của Huỳnh Công Minh – một cái ghế có hai chân, một chân giáo hội và một chân cộng sản – từng làm trò cười cho nhiều người. Đến lượt Tổng Giám Mục Bùi Văn Đọc lấy tư cách gì để xô ngã cái ghế ấy? Một người rất khiêm nhường thường không biết phải nói gì, làm gì? Nói theo Đảng thì có gì cần hỏi ý Chúa?

Phần ông Huỳnh Công Minh, ông phải có trách nhiệm biết nhường chỗ cho người khác. Việt Nam cũng như Giáo Hội Việt Nam cần phải có một thứ văn hóa từ chức mới được. Cứ như cung mực này, ông có nhiều triển vọng vượt qua Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong việc ngồi ỳ tại chức vụ. Và cho đến lúc ông chết, Đảng và Giáo Hội sẽ phải quyết định nên chôn ông ở nghĩa địa nào cho xứng hợp? Nghĩa địa Đất Thánh hay nghĩa địa Ba Đình?

Gương của Giáo Hoàng Francis là sống thanh bạch. Hội đồng giám mục Việt Nam có mắc 15 khuyết tật được nêu ra bởi giáo hoàng Francis không? Chẳng những không phải 15 mà nhân gấp đôi cũng chưa đủ số. Điều này cũng là một bài học để xem có bao nhiêu giám mục trong nước Việt Nam theo được gương của ngài?

Cái bệnh đi đâu cũng đón tiếp, cờ xí long trọng, kèn trống inh ỏi, trẻ con, phụ nữ xếp hàng từ ngoài cổng chào còn lâu mới xóa bỏ được như việc đón tiếp giám mục Nguyễn Văn Khảm về nhậm chức ở Mỹ Tho.

Ôi sao mà linh đình như thế! Hy vọng từ đây về sau, tôi không còn phải nhìn cái cảnh đón rước rình rang như thế nữa.

Bên này, việc bổ nhiệm một giám mục về một nhiệm sở là công việc nội bộ của giáo hội, Giám mục đến một cách âm thẩm, đi về không ai biết! Chúng ta học được gì trong ngày lễ nhậm chức của Giáo Hoàng Francis?
Hàng giám mục Việt Nam phải có can đảm vượt ra khỏi mình, nhận lãnh trách nhiệm rõ ràng trước cộng đồng dân Chúa.

Nghĩa là người của hoàn cảnh dám cất lên tiếng nói.

Ngày hôm nay, giới trẻ, giới trí thức, giới cựu cán bộ cộng sản đều dõng dạc lên tiếng phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản. Phần chúng ta, chẳng lẽ chúng ta không có tiếng nói, vẫn im lặng?

Phải dám tự tuyên xưng như giáo hoàng Benedictô XVI tuyên bố tại Học viện hàn lâm công giáo Bavarian Munich, năm 1971: Why I am still in the Church?

Tại sao tôi vẫn còn là người của giáo hội?

Các giám mục có thật sự còn là người con của giáo hội hay là con cái của quỷ Satan.

Đó là điều mà nhà thần học Thụy Sỹ Hans Kung gọi là ý thức hệ Satan. (Ideologia satanae, une idéologie de Satan).(14)

Phúc âm 16,23 viết: “Satan, hãy lui ra khỏi ta! Mày đã phá ta, bởi vì những tư tưởng của mày không phải từ Chúa, mà từ con người”

Để cứu giáo hội công giáo Việt Nam ra khỏi vũng lầy cộng sản, cần thay đổi thể thức bầu chọn giám mục. Điều mà ngay giáo hội công giáo Âu Châu cũng thấy cần thiết phải thay đổi theo nhu cầu riêng của họ.

Tỉ lệ giáo dân TCG tại các nước ở châu Á. Nguồn: Pew và NYT.

Tỉ lệ giáo dân TCG tại các nước ở châu Á. Nguồn: Pew và NYT.

Cho nên, hiện nay cho dù Hội Đồng giám mục Việt Nam đã xây được một trụ sở lớn lao cao 8 tầng tại số 72-12 đường Trần Quốc Toản, phường 8, quận ba oqr Sài Gòn thì điều đó chưa đủ nói lên mức trưởng thành và phát triển của HĐGM bao lâu còn lệ thuộc vào chính phủ. Tương lai còn có tham vọng xây dựng một đại học thần học công giáo. Nó hứa hẹn một tương lai khá hơn cho giáo Hội nếu nội dung giảng dạy và tuyển chọn người giảng dạy không phải do đảng chỉ định.

© 2015 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

(9) John L.Allen Jr, Pope Benedict XVI, trang 175-176
(10) Cuốn sách duy nhất của Ormando là cuốn tiểu thuyết Il Fratacchione (“Tu sĩ béo”), kể lại hai năm Ormando sống tiêu tại một tu viện, cố gắng để có được gần gũi hơn với Thiên Chúa và để làm sạch bản thân, thoát khỏi những ham muốn “ô uế”. Người kể chuyện trong sách nói, “Sự thật đồng tính không là cái đẹp. Ngược lại, nó là một sự chết liên tục trong tâm hồn. Hoặc chấp nhận là người đồng tính, hay là tự sát.” (Nguồn: John-Manuel Andriote, “‘Alfredo’s Fire’ Sure to Spark Discussion About Religion, Homosexuality and the Deadliness of Intolerance”, HuffPost, 03/15/2013)
(11) Giáo Hoàng: Vatican mắc 15 căn bệnh, BBC, ngày 23-12-2014
(12)
Vũ Sinh Hiên, 30 mươi năm công giáo Việt Nam dưới chế độ cộng sản Việt Nam, Giáo Hội công giáo tại TP Hồ Chí Minh, từ trang 317-325
(13) John L. Allen Jr, Ibid., trang 78-81
(14)
Hans Kung, Peut-on encore sauver L’Église, trang 11

 

 


 

One comment on “Tương lai nào cho Giáo triều Vatican và Giáo hội nhà nước Việt Nam? (Kết)
  1. một ngư phủ says:

    Bravo t/g NV Lục – bài analysis quá hay – thật không hổ danh Cụ Sáu của DCVOnline!

    (Em một thời đòi mần đệ tử của Ignatius of Loyola nên hổng dám lạm bàn đến các vị Giáo Hoàng – điều cam ky.)

    Tuy vậy, em chịu cái mục “Nhìn lại”:

    “Nay nhìn lại một cách công bằng, tôi nhận thấy phần đa số các thừa sai được gửi sang đây đều là những người hy sinh, thiện chí và có lý tưởng. Họ xứng đáng với vai trò những kẻ đi truyền giáo, những kẻ đi mở đường.

    So các thừa sai này với những thành phần giám mục trong Giáo Hội nhà nước (VN) hiện nay thì quả đúng là một trời một vực. Họ không xứng đáng tiếp tục ngồi tại vị một cách vô trách nhiệm, không dám có một lời phản đối.”

    Xin đa tạ, Cụ Sáu!