Giải mã cái chết non yểu của nền Đệ nhất Cộng hòa miền Nam (P1)

Nguyễn Văn Lục

nddKể từ năm 1970, các buổi lễ chính thức để tưởng niệm nền Đệ nhất Cộng hòa -tưởng niệm cố tổng thống Ngô Đình Diệm- đã được tổ chức công khai ở Saigon. Kể từ đó cho đến nay, các buổi lễ trên đã trở thành một thông lệ tại nhiều nơi trên thế giới.

Nhưng ngược lại đã không có những buổi lễ kỷ niệm cuộc Cách Mạng 1963 thành công.

Điều đó chỉ ra hai điều:

  • Một, việc triệt tiêu nền Đệ nhất Cộng hòa là một thất bại về nhiều mặt. Ngoài những mặt như chính trị, quân sự, xã hội. Theo tôi, cái mất mát lớn nhất là uy quyền Quốc Gia không còn nữa. Tính hợp pháp (Legitimacy) của một vị tổng thống cũng mất luôn. Uy tín người lãnh đạo đất nước cũng không còn nữa. Hiểu theo cách của người Á Đông như Geoffrey Shaw đã dùng trong tựa đề cuốn sách mới đây của ông, The lost Mandate of Heaven. Nghĩa là ngoài vấn đề pháp lý đã đành. Chúng ta còn mất đi cái thẩm quyền cao quý nhất là thẩm quyền luân lý, thẩm quyền tinh thần mà đạo lý Đông phương thường nhìn nhận như một sứ mạng thiết yếu của người lãnh đạo đất nước.
  • Hai, càng ngày càng có nhiều người nhìn lại biến cố bi kịch này. Ngoài những người đã từng sống và trải nghiệm qua hai chế độ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa. Có rất nhiều người Mỹ từng là người trong cuộc đã sớm lên tiêng kết án chính sách sai lầm của Kennedy. Đó là TT Nixon, TT Johnson, đại sứ Nolting sau nay ông đã xin từ chức rút ra khỏi ngành ngoại giao. Đại tướng Harkins, những trùm mật vụ như Rufus Phillips, William Colby, Thượng Nghị sĩ Eugene Mc Carthy, v.v. Sự nhìn nhận như thế là một thái độ chính đáng mà nay không thể gán ghép là một thái độ hoài Ngô, hoặc tham vọng dựng lại một chế độ Diệm không Diệm.

Nếu có tham vọng gì thì đó là là tham vọng nhin lại đâu là sự thật. Một cách nói khác là nền Đệ nhất Cộng hòa đã chôn, nhưng chưa chết!

Phục hồi lại chế độ Đệ nhất Cộng hòa là gián tiếp phục hồi và trả lại cho quân đội cũng như thể chế miền Nam vai trò chính trị, quân sự của nó.

Sự chưa chết ấy được cắt nghĩa là thế hệ các nhà viết sử thứ hai tại Mỹ đã có cơ hội để nhìn lại lịch sử miền Nam trước 1975 một cách công bằng hơn.

Những người như các nhà sử học Edward Miller, Robert Tracinski và đặc biệt giáo sư Mark Moyar với tác phẩm Triumph Forsaken, The Vietnam War 1954-1965 mà người ta thường dịch là Một chiến thắng bị bỏ lỡ.

Tiếp nối các tác giả trên thì gần đây nhất có hai tác phẩm mới được xuất bản: Cuốn The Politics of Deception của Patric J. Slovan, 2015 và mới đây nhất -tháng 11-2015- cuốn The lost Mandate of Heaven của Geoffrey Shaw.

Chính hai cuốn sách của Slovan và G. Shaw đã thúc dục tôi viết lại và viết thêm về một số mặt của nền Đệ nhất Cộng hòa.

Tuy nhiên cái yếu tố làm cho tôi hiểu rõ và đưa đến một thái độ dứt khoát là nhờ sống và trưởng thành trong nền Đệ nhị Cộng hòa giúp tôi hiểu rõ những thành quả của nền Đệ nhất Cộng hòa.

Có thể nói, Đệ nhị Cộng hòa là cơ hội tốt nhất để hiểu được Đệ nhất Cộng hòa.

Theo ý kiến riêng của người viết, những đề tài viết vế chế độ Đệ nhất Cộng hòa thường là những ‘đề tài quá khứ nhìn lại’, nhưng xem ra nó không bao giờ là cũ dù đã hơn 50 mùa xuân đã đi qua. Quá khứ ấy vẫn được hâm nóng trở lại vì nó có quá nhiều ý kiến trái chiều. Đã có 1200 cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam và nền Đệ nhất Cộng hòa.

Vậy mà cho đến nay, nhiều vấn đề vẫn chưa được khai thông.

Nhiều sự kiện lịch sử do chính người Mỹ che dấu vì những lý do quyền lợi đảng phái, nhất là các kỳ bầu cử tổng thống. Các chính sách của người Mỹ thường được hoạch định hoặc thay đổi theo các nhu cầu tranh cử.

Vì thế nay nhìn lại ta mới hiểu được những nguyên do sâu xa của nó. Sự thay đổi đường lối, kế hoạch ấy nó biến trở thành những sự kiện lịch sử đầy kịch tính, dàn dựng và thiếu lương thiện.

Ta thường dựa trên căn bản đạo đức để gọi sự thay đổi ấy là một phản bội.

Nhưng muốn hiểu tại sao chính sách của Mỹ thay đổi?

Bích chương quảng cáo 3 ngày  Đại hội nhạc trẻ ở Woodstock, năm 1969. Nguồn: OntheNet

Bích chương quảng cáo 3 ngày Đại hội Woodstock ở New York,tháng 8, năm 1969. Nguồn: OntheNet

Theo tôi, sự thay đổi này khởi đi từ thập niên 60 mà người ta gọi là: Những năm 60 (Les années 60). Tôi có dịp nhìn lại những năm tháng này ở Mỹ cho thấy nó như một chấn động lịch sử mà người ca tụng thì gọi đó là một Cuộc Cách mạng tinh thần với ba chủ đề: Tự Do – Đàn Bà – và Ma túy. Nó giản lược cuộc sống vào chuyện tự do làm tình – xì ke ma túy – và nhạc Rock-n-Roll với chủ yếu là cây đàn guitar.

Nhạc là cây đàn Guitar đánh tới tấp như gió, như mưa bão, cúi gập người xuống hay ngã ngửa người, giật như người mắc bệnh kinh phong – dập dình phấn khích đến cực điểm thì xé toang quần áo, cởi trần và bất kể người chung quanh, nhảy múa cuồng lọan. Đỉnh điểm của nó là Festival de Woodstock tụ họp trên 200.000 giới trẻ -sống hoang dã-vào rừng-làm tình-ca hát nhảy múa đêm ngày-sống bất cần ngày mai-chống chiển tranh.

Đánh giá giai đoạn này có thể nói người Mỹ lạc hướng và nước Mỹ thua trận không phải ở Việt Nam mà ngay tại Mỹ. Chính quyền Kennedy đã có những chuyển hướng do áp lực của phong trào giới trẻ thập niên 60.

TT. Reagan sau này nhận xét họ – những thanh niên Mỹ – ứng xử như những con vật. Phong trào này chỉ xẹp như quả bóng xì hơi khi có bạo động với bảy người chết.

Hiểu rõ hiện tình nước Mỹ trong giai đoạn này giúp chúng ta hiểu những chuyển hướng chính trị tại Mỹ. Sau này, tổng thống Bush cũng đã cảnh cáo thành phần đối lập tại Mỹ và đã nêu ra trường hợp Việt Nam như một tỉ dụ.

Gọi là phản bội là chỉ theo cái nhìn chủ quan của chúng ta.

Chúng ta, người miền Nam nói chung, chính quyền và quân đội VNCH đã bị hiểu lầm đủ cách và là nạn nhân của chính sách Mỹ một cách thiếu công bằng.

Nhớ lại giai đoạn 60 ở Việt Nam, tôi nhận ra hầu như không mấy ai có thông tin đầy đủ về hiện tình nước Mỹ lúc bấy giờ. Phong trào Hip-pi sang Việt Nam chỉ còn là những cơn bão rớt như một mốt mới chỉ ảnh hưởng tới một vài thành phần giới trẻ con cái thuộc thành phần khá giả.

Phần đông giới trẻ chúng tôi cắm cúi lo học ngày học đêm để làm sao có được mảnh bằng tú tài để nếu có đi lính thì không rơi vào số phận: Rớt tú tài anh đi Trung Sĩ.

Cho nên, nghĩ lại giai đoạn này, tôi cảm nhận được số phận của người Việt Nam như thế nào. Vậy mà vô lý, cho đến nay, người Mỹ vẫn bị ‘hội chứng Việt Nam’ ám ảnh.

Nước Mỹ có thể đã làm nên nhiều điều kỳ tich có tầm vóc lịch sử thế giới, nhưng ở Việt Nam thì không.

Họ chỉ cho thấy một chính sách áp đặt một phía và nếu cần thì loại trừ bằng mọi phương tiện, ngay cả lừa đảo.

Sau nhiều năm đọc và say nghĩ, tôi cho rằng cái sai lầm lớn nhất của Mỹ và đồng minh là trao một trọng trách quá lớn là Việt Nam như một tiền đồn chinh trị đảm đương trách nhiệm chiến thắng cộng sản trên toàn vùng Đông Nam Á.

Ông Diệm được coi như một lãnh tụ – một thứ giải pháp chính trị – mà sự thắng thua cũng là sự sống còn của thế giới tự do.

Thật sự thì đó là một yêu cầu quá tầm tay của ông.

Tại sao không phải là Nhật hoặc bất cứ nước nào khác ở Đông Nam Á. Tại sao là miền Nam? Tại sao phải là ông Diệm? Tại sao ta trở thành thí điểm cho một chính sách? Tại sao ta cầm ngọn cờ đầu? Tại sao ta chết thay cho người khác?

Những câu hỏi trên nay lại có dịp được đặt ra một lần nữa trong cuộc khủng hoảng ở Biển Đông!

Tình trạng này, nhiều người mong đợi chính quyền cộng sản ngả theo phía Tây Phương!

Tình thế này, theo thiển ý, họ sẽ không chọn một giải pháp đơn cực nào cả.

Phần phía người Việt Nam chúng ta buộc phải sống chết với cuộc chiến tranh ấy -thân phận chúng ta gắn bó với số phận cuộc chiến tranh từng ngày từng giờ ấy- không thể có chọn lựa nào khác- hoặc sống hoặc chết với nó.

Và quả thực ta đã chọn được chết với nó cho trọn vẹn nghĩa tình.

Vì thế khi mất miền Nam thì người Mỹ êm thắm rút đi, phần chúng ta nhận lãnh tất cả những oan khiên, mất mát do cuộc chiến ấy gây ra.

Nói một cách khác, chính người Mỹ mới là những tên lính đánh thuê.

Quân đội Mỹ ở Việt Nam. Nguồn: Getty Immages

Quân đội Mỹ ở Việt Nam. Nguồn: Getty Immages

DCVOnline | Chiến tranh Việt Nam đã có nhiều tên gọi nhưng nó đã là lịch sử và hiện vẫn đang được học giả bình thản nghiên cứu, truy cập rất nhiều tài liệu mới, dù không phải là không bị giới hạn, từ tất cả mọi phía trong cuộc chiến. Thí dụ, theo Bắc Kinh thì đã có khoảng 320000 quân Trung Cộng có mặt giúp Bắc Việt trong khoảng 1965-1973. Ngày 23 tháng 9, 1968 Mao Trạch Đông đã hỏi Phạm Văn Đồng, “Tại sao người Mỹ không làm rùm beng về sự kiện có hơn 100.000 binh sĩ Trung Quốc đang giúp đồng chí xây đường sắt, đường bộ và sân bay dù họ đã biết?”

Thực ra Trung Cộng và Liên Xô đã đóng một vai trò lớn hơn trong cuộc chiến tranh Việt Nam hơn người Mỹ biết được vào thời điểm đó. Năm mươi phần trăm của tất cả các viện trợ cho nước ngoài của Liên Xô đã đổ vào Bắc Việt Nam từ năm 1965 đến năm 1968. Pháo đội phòng không của Liên Xô ở miền Bắc Việt Nam đã bắn rơi hàng chục máy bay Mỹ. theo cựu đại tá Liên Xô Alexei Vinogradov, “Người Mỹ biết quá rõ rằng các máy bay Bắc Việt do Liên Xô thiết kế (MIG) thường xuyên do phi công Liên Xô lái.”

Sử gia Chen Jian kết luận rằng “nếu không có sự hỗ trợ đó, lịch sử, ngay cả kết quả của cuộc chiến tranh Việt Nam, có thể đã khác.”

(Nguồn: Michael Lind, “Why we went to war in Vietnam”, The American Legion. Michael Lin cũng là tác giả cuốn “Vietnam: The Necessary War”.)

Họ đến đây với giao kèo một năm rồi trở về Mỹ – để đến lượt người khác. Hoặc một nhiệm kỳ Tổng thống năm năm. Sau năm năm, đó là công việc của người kế nhiệm.

Còn người lính miền Nam, chọn binh nghiệp là một chọn lựa suốt đời!

Đó là sự khác biệt giữa đôi bên.

Thật ra thì chúng ta đã chết thay cho những người khác mà vô tình chúng ta không biết. Ông Diệm như thế là một con dê tế thần chết cho chính những niềm xác tín của ông!

Đó là những huyền thoại cần được giả mã.

Những sự chia rẽ, tranh chấp trầm trọng. tạo ra những biên giới thù địch với nhau: giữa các tôn giáo, giữa các đảng phái chính trị, giữa Bắc-Nam, giữa giới trí thức phản chiến và không phản chiến bởi vì chúng ta đã bị tuyên truyền lợi dụng từ nhiều phía.

Đó là những chia rẽ giả hiệu do tuyên truyền và áp đặt.

Phía người cộng sản Bắc Việt thì đã biết lợi dụng tối đa, đào sâu thêm những mâu thuẫn dị biệt ấy để chia rẽ hàng ngũ quốc gia.

Và người Việt quốc gia một cách ngoài ý muốn luôn luôn phải đối diện đương đầu với ba thế lực:

Nội thù giữa chúng ta -chúng ta do thói quen chia rẽ như một quán tính, Ta với bạn là người Mỹ là một mối tương quan giữa quan thầy và người thụ hưởng và kẻ thù thứ ba là Ta-với người cộng sản.

Nhưng nguyên nhân chính đưa đến sự thua cuộc là Ta-và Mỹ, Diệm-và Kennedy.

Sự viện trợ biến miền Nam là kẻ lệ thuộc vào sự viện trợ ấy.

Trong những năm ấy, phần đông người đọc lại chỉ đọc và nhất là tin tưởng những tài liệu viết ra từ phía người Mỹ và sự tuyên truyền rỉ tai của cộng sản.

Nhiều người cầm bút đã mắc phải cái bệnh tôn sùng và tin tưởng ấy.

Người Mỹ họ viết đúng cũng có, nhưng phần sai lạc, bóp méo cũng không thiếu. Có một số đông giới trí thức miền Nam khác thì lại ngả theo những lời dụ dỗ của cộng sản mà biểu tượng cao điểm của sự lừa dối nằm trong Mặt Trận Giải Phóng miền Nam.

Càng nghĩ, sự thật càng sáng tỏ, càng buồn.

Đối với người Mỹ, trước sau họ chỉ là người ngoại quốc, họ đến Việt Nam như những kẻ tự cho mình là ‘cố vấn’, kẻ chỉ dạy, họ không bao giờ hiểu được trọn vẹn hết ý nghĩa cuộc chiến tranh Việt Nam.

Phải trước tiên là người Việt Nam mới hiểu được cuộc chiến này.

Hiểu được tình tự dân tộc, hiểu được những nỗi lo sống còn, hiểu được những khó khăn của các chính quyền, hiểu được những mất mát, những nỗi đau, nỗi nhục, hiểu được sự thua kém lệ thuộc vào người, hiểu được sự o ép phải nhượng bộ, hiểu được con người Việt Nam, hiểu được sâu xa tại sao hận thù người cộng sản.

Người Mỹ đã không bao giờ hiểu được những điều như thế nên dễ dàng thay đổi chính sách, bán đứng Việt Nam Cộng hòa.

21 năm chế độ miền Nam, trải qua những thăng trầm, có những yếu kém, thiếu xót, có những hạn chế về nhiều mặt như quản lý hành chánh, chính sách..và biết bao nhiêu lạm dụng sai trái.

Đất nước miền Nam như chiếc cầu khỉ bắc bằng mấy cây tre từ bao nhiêu thế hệ, với sông nước con người nay trở thành bãi chiến trường cho những âm mưu tranh đoạt, bội phản, bom đạn và lừa bịp của nhiều phía.(1)

Tuy nhiên đó là những lỗi lầm mà chế độ nào cũng không thể tránh hết được.

Sau những năm tháng nghiền ngẫm đọc, suy nghĩ, tôi có thể tóm tắt mà không ngại ngùng nói ra là có một số mốc điểm khách quan làm phân hóa và đã đưa đến sự mất miền Nam vào tay cộng sản. Đó là:

Giải mã vấn đề kỳ thị tôn giáo ở miền Nam

Vấn đề tôn giáo và kỳ thị chủng tộc là những đề tài nóng hiện nay. Nó đã gây ra biết bao cuộc chém giết đẫm máu những người vô tội hầu như vô phương giải quyết. Các nước thuộc khối Ả Rập và Phi Châu là nơi đang diễn ra những thảm kịch nhân loại.

Nhìn về Việt Nam thì quả thực thảm kịch ấy chưa hề có bao giờ xảy ra.

Dưới thời Pháp họ đã hầu như thất bại trong âm mưu chia rẽ Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Ở Mỹ đã xảy ra biết bao nhiêu cuộc chém giết đẫm máu mà đã có lần nào cần đến sự can thiệp của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc? Dọc dòng sông Mississippi chảy qua xuyên bang nước Mỹ nay có vùng như Cairo nay trở thành một thành phố chết vì nạn kỳ thị đến nỗi cả hai phía đều rời bỏ để đến thành phố khác làm ăn. Bệnh viện, truờng học, tiệm buôn đều đóng cửa.

Nước Mỹ như thế thì tư cách gì dạy ai dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo? Mục sư Martin Luther King chết vì lý do gì?

Việc kỳ thị tôn giáo ở Việt Nam dưới thời Minh Mạng là có thật. Và đã đước quy định bằng văn bản pháp luật. Và cũng chưa bao giờ được khảo sát đúng mức.

Một tỉ dụ cho thấy có hai loại công dân trên cùng một vùng địa lý. Tại làng Đông Ngạc, đã có 63 người trong làng thi đỗ tiến sĩ, cử nhân. Nhiều gia đình cha con cùng thi đậu, thậm chí cả ba thế hệ đều có tên trong danh sách thi đậu. Nhưng chỉ cách một con sông ngay sát lang Đông Ngạc, có một làng công giáo là làng Ngọc Cục. Chưa hề có một người nào của làng này được ứng thi nói chi đến thi đậu.

Vậy mà chuyện đó được coi là bình thường. Và mặc dầu người Pháp là chỗ tựa cho người công giáo.

Nhưng trong khoảng 250 cuộc khởi loạn dưới triều Minh Mạng, người ta cũng không có một bằng cớ pháp lý nào cho phép đi đến kết luận là một trong các cuộc nổi loạn ấy do người Thiên Chúa giáo cầm đầu.

Vậy mà vào năm 1963 làm sao đã có thể nổ ra một cuộc biến động chính trị mà yếu tố then chốt là môt cuộc đàn áp tôn giáo đi đến kết thúc là sự sụp đổ một chế độ mà nguyên do chi là một chỉ thị về vấn đề treo cờ.

Ai đã có thể làm được một điều đến kỳ diệu như thế ?

Chúng ta trước hết thử nêu ra một trường hợp tiêu biểu về mối tương quan tôn giáo và chính trị tại nước Mỹ.

Kennedy là một người thứ hai theo đạo công giáo ra tranh cử tổng thống tại Hoa Kỳ. Mặc dầu sống trong một đất nước có truyền thống dân chủ hơn 300 năm, nhưng ông là một ứng cử viên Thiên Chúa giáo, tự nhiên vì là thiểu số nên ông có tâm trạng ngại ngùng, né tránh không muốn bày tỏ công khai việc này.

Patrick J. Slovan lúc đó còn là một sinh viên đã đặt câu hỏi sau đây cho Kennedy:

“Tôi còn nhớ cuộc tranh cử tổng thống năm 1928, ứng cử viên dân chủ Al. Smith vốn là một người công giáo đã bị ông ứng cử viên cộng hòa là Herbert Hoover đánh bại. Nhiều người thời đó cho rằng yếu tố tôn giáo là nguyên nhân thất bại của Al. Smith. Vậy thì nay ông có nghĩ rằng yếu tố tôn giáo sẽ có có ảnh hưởng trên việc thắng cử của ông không?”(2)

Đám đông đang reo hò cổ võ ứng cử viên Kennedy bỗng chốc im bặt. Câu hỏi đặt ra, đặt mọi người vào một hoàn cảnh khó xử, không tiện nói ra công khai.

Mặt Kennedy đang tươi cười rạng rỡ bỗng đanh lại, mắt sắc lạnh nhìn người đã đặt ra câu hỏi ấy.

Vì thế, thượng nghị sĩ Albert Gore, dân chủ, nhận xét vấn đề ‘công giáo’ là vấn đề không thể gánh nổi (Insurmontable problem) cho đảng Dân Chủ.

Tổng thống Ngô Đình Diệm, người được trao thiên mệnh (Geofrey Shaw). Nguồn: OntheNet.

Tổng thống Ngô Đình Diệm, người được trao thiên mệnh (Geoffrey Shaw). Nguồn: OntheNet.

Nước Mỹ vào năm 1960 mà còn bảo thủ và cố chấp như thế thì Việt Nam là một nước còn chậm tiến trên nhiều phương diện thì làm thế nào để có thể chấp nhận một tổng thống công giáo?

Trên cái lý khách quan, ông Diệm có thể không gánh nổi trách nhiệm vai trò một tổng thống công giáo trong một đất nước có rất nhiều người Phật giáo.

Đây là điều mà nhiều người không chịu nhìn thẳng vào sự kiện.

Người dân chưa có đủ điều kiện chín mùi để có thể chấp nhận một người công giáo đứng đầu nước một cách dễ dàng. Những khó chịu, những bực bội, những hiểu lầm đôi bên cứ thế mà lớn dần.

Người ta còn nhớ trước đây trong đám cưới của ông Ngô Đình Nhu lúc đó 34 tuổi, bà Nhu mới 18 tuổi. Sự khác đạo đã là lý do chính khiến cuộc hôn nhân suýt không thành. Đã có một buổi họp đại gia đình để quyết định về việc này. Bà cụ Ngô Đình Khả phản đối quyết liệt cuộc hôn nhân vì lý do tôn giáo, vì một bên là một gia đình đạo gốc từ lâu đời và bên kia, gia đình Trần Văn Chương thì không.

Sau này cho dù bà Nhu có đồng ý theo đạo thì việc theo đạo đó không có căn bản niềm tin. Ông Ngô Đình Khôi, người anh cả trong gia đình cũng không đồng ý. Ngô Đình Cẩn còn đặt thẳng thừng vấn đề bà vợ ông Trần Văn Chương là một người đàn bà có nhiều tai tiếng.

Ông Ngô Đình Nhu tuyệt vọng đòi tự tử nếu không lấy được bà Nhu. Ông cũng cương quyết xin từ bỏ không dính dáng vào những hoạt động chính trị của đại gia đình này vốn theo gương thân phụ của họ muốn con cái sau này tiếp tục tranh đấu dành được độc lập cho đất nước.

Đám cưới của ông Ngô Đình Nhu sau cùng chỉ được mọi người thỏa thuận với sự đồng ý của ông Ngô Dình Diệm, Ngô Đình Luyện và bà Ngô Đình Hiệp.

Phần ông Diệm, đã nhiều năm làm việc trong triều đình, ông hiểu rõ hơn ai hết cái hố sâu ngăn cách người của hai đạo giáo.

  • Việc thứ nhất, cụ Ngô Đình Khả thường không tham dự vào ngày lễ tế Nam Giao của triều đình và thường ở nhà. Bà Ngô Đình Hiệp dù còn nhỏ đã đem cái thắc mắc ấy hỏi cha. Cụ Ngô Đình Khả từ tốn phân giải vì theo đạo công giáo chỉ thờ một Chúa nên không được phép cúng lậy ai khác. Vì lý do đó chắc cụ đã phải xin phép triều đình Huế đặc cách cho được miễn cho được ở nhà trong ngày đó. Nhưng điều đó chứng tỏ có những trở ngại không phải là lúc nào cũng dễ dàng vượt qua.
  • Cụ Ngô Đình Khả lại được vị vua trẻ là Thành Thái tin dùng, có một ảnh hưởng nhất định trên một số quyết định của triều đình. Những vị quan lại khác không khỏi xầm xì, bàn tán và nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của công giáo trên vị vua này.
  • Cụ Nguyễn Hữu Bài được phong thượng thư vào năm 1908. Ông còn có chân trong Viện Cơ Mật.. Ảnh hưởng của cụ đối với triều đình Huế cũng như người Pháp là hiển nhiên. Cụ được tháp tùng phái đoàn vua Khải Định vào năm 1922 sang Pháp, rồi nhân đó có ghé Rome. Tại đây ông được yết kiến Giáo Hoàng và ông đã thỉnh cầu Giáo Hoàng cho thiết lập một tòa Khâm sứ ở Đông Dương. Chính quyền Pháp nghi ngại vì lời thỉnh cầu này có thể đưa đến chính sách bản địa hóa hàng giáo phẩm bản xứ thay cho hàng giáo sĩ ngoại quốc. Sự e ngại ấy chẳng những đến từ phía người Pháp mà còn từ phía quan lại Việt Nam nữa, phần đông e ngại hoặc chống lại những người công giáo.(3)
  • Việc vua Bảo Đại quyết định chọn bà Nam Phương làm Hoàng hậu cũng tạo ra biết bao nhiêu điều dị nghị trong triều đỉnh. Bà mẹ vua Bảo Đại là người đầu tiên mà cũng không phải người cuối cùng phản đối cuộc hôn nhân này. Bà cho rằng, bà Nam Phương chẳng những là người công giáo mà rồi việc giáo dục con cái sau này sẽ ra sao? Lại còn việc thờ cúng tổ tiên, vấn đề giữa Đông và Tây, vấn đề đạo nho. Vua Khải Định theo đạo Phật, nhưng chùa chỉ được xây dựng ngoài cung điện nhà vua? Chẳng những thế, bà Nam Phương còn được đào luyện ở Tây Phương. Và bà Từ Cung mong muốn có một cuộc hôn nhân dựa theo truyền thống cổ truyền. Mặc dầu có rất nhiều sự chống đối, nhưng Bảo Đại cương quyết tiến hành và vì thế, đám cưới đã được cử hành vào ngày 20 tháng 3- 1934. Và trong dịp này, Bảo Đại đã phong cho bà Nam Phương tước hiệu là Hoàng Hậu. Tuy nhiên, ông cũng phải nhìn nhận, đây không còn phải là một vấn đề liên quan đến tôn giáo mà thôi, mà còn là vấn đề liên quan đến chính trị quốc gia.(4) (En réalite, il ne s’agit pas d’une affaire religieuse, mais d’une affaire d’Etat). Chẳng những thế, Bảo Đại còn viết thư cho giáo hoàng Pie XI lúc bấy giờ xin một số phép chuẩn, nhờ đó có sự xích lại gần giữa Đông và Tây giúp cho mối liên hệ bớt căng thẳng và hiểu nhau hơn.

Một người như ông Diệm với nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp với phía Phật giáo đã hiểu một cách sâu xa những suy nghĩ của ông với người Phật giáo như lời ghi lại của bà Ngô Đình Hiệp như sau:

‘We should always remember that we are a minority.’(5)

Sự cẩn trọng của ông Diệm trong sự phân biệt lãnh vực tôn giáo và chính trị đã được ông lưu tâm ngay từ khi chưa nắm chính quyền. Ở trong Nam thuộc khu vực Vĩnh Long, giám mục Ngô Đình Thục muốn yểm trợ cho ông Diệm nên đã lập ra những đoàn thể tôn giáo kiểu các tổ chức nhân dân tự vệ như ở Phát Diệm. Những tổ chức này chẳng những bị người Pháp nghi kỵ mà chính bản thân ông Diệm cũng cực lực phản đối. Việt Minh cũng không tha, tìm cách ám toán. Bà Trần Thị Liên trong tập sách của bà nhận định như sau:

‘La position de Mgr Thuc était donc très nettement critiqé vis-à-vis du gouvernement Bao Đại, tout comme celle de son frère Ngo Dinh Diem.’(6)
(Lập trường của giám mục Thục đã bị Bảo Đại phê phá một cách minh bạch và cũng bị chính người em của ông là Ngô Đình Diệm chỉ trích).

Do muốn yểm trợ cho người em là Ngô Đình Diệm theo lời trăn trối của người cha trước khi qua đời mà giám mục Ngô Đình Thục đã vấp phải sai lầm trầm trọng vì không hiểu được mối tương quan tôn giáo chính trị. Vì thế, trong những buổi họp của đại gia đình ông Ngô Đình Diệm đã không ngần ngại chỉ trích sai lầm của anh mình. Đối với ông Diệm, dùng thế lực tôn giáo hay một đảng công giáo như đảng Xã hội công giáo cho một mưu cầu chính trị lâu dài chỉ có hại mà không có lợi. Ông nói: “I can talk about the disavantages of Catholic parties myself.”(7)

Giám Mục Thục do thiếu kinh nghiệm đời, thiếu kinh nhiệm chính trị, lo sợ ông Diệm sẽ bị người Pháp ám toán nên giám mục Thục đã có lần dại dột gửi một thư cho toàn quyền Decoux ngày21-8-1944 mà nội dung có đoạn:

“Các em của tôi đã liên tục dâng hiến mạng sống họ cho nước Pháp trong dịp cộng sản nổi loạn. Diệm, em tôi đã ngã may mắn thoát chết do những viên đạn súng lục của người Tàu Chợ Lớn, người này được gởi tới Phan Rang, nơi Diệm hăng say ngăn chặn sự xâm nhập của các cán bộ cộng sản từ Nam Kỳ.”(8)

Một lần nữa ông Diệm lại nổi giận về việc làm của giám mục Thục.

Trong một buổi họp gia đình, cả ông Nhu, ông Cẩn đều cho rằng Giám Mục Thục phạm sai lầm khi nhờ chính quyền Pháp bảo hộ tính mạng cho ông Diệm. Và theo Giám Mục Ngô Đình Thục, người Pháp đã từ chối vì cho rằng họ không đủ phương tiện để bảo vệ cho ông Diệm. Việc làm của giám mục Thục chẳng những không đem lại kết quả gì cho ông Ngô Đình Diệm mà còn để lại lá thư sau này nhiều người đã dùng lá thư đó tố cáo anh em Ngô Đình Diệm về sự hợp tác với người Pháp.

Điều mà trong suốt cả đời ông Diệm là bằng mọi giá, ông muốn mang lại cho Việt Nam một nền độc lập thoát khỏi sự cai trị của người Pháp.

Sự sai lầm của Giám Mục lại có cơ hội xảy ra một lần nữa trong vụ Phật giáo miền Trung mà thái độ của Giám Mục Thục tỏ ra không thức thời trong một thành phố như Huế vốn được coi như cái nôi hay Quê Hương của Phật giáo.

Huế là Phật giáo chẳng khác gì Phát Diệm là công giáo.

Theo tôi, ông Ngô Đình Thục là người thương em mà đã hại em đưa đến chỗ ông Ngô Đình Diệm bị thảm sát. Dĩ nhiên, cái chết của anh em ông Ngô Đình Diệm chủ yếu do Averell Harriman và vây cánh của ông như Forestall, John Keneth Galbraith.

Theo Patrick J. Slovan, những người này thuộc thành phần ‘anti-Diem activists’.(9) Cũng theo PJ Slovan, sau này khi biết việc mình làm, ông Forestall đã đệ đơn từ chức với TT.Kenedy.(10)

Những người ủng hộ ông Diệm như đại sứ Nolting biết rõ âm mưu của những người này thì đã bị thay thế. Phần bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Robert McNamara cũng bị gạt ra ngoài vòng -out of reach- tại vùng Grand Teton Mountains of Wyoming.

Phần Đại tướng Maxwell Taylor chỉ chuyên trách về quân sự nên cũng đã không được biết đến bức công điện 243- và ông chỉ được biết đến sau khi nó đã được gửi đi. Nhưng cũng xin ghi lại đây tâm tư của ông đối với ông Diệm:

“Our position ưas that Diem is certainly not ideal. He is terrible pain in the neck in many ways. But he ís an honest man. He is devoted to his country. And we are for him until we can find someone better- looking under the bushes for George Wagshington, I used to call it.”(11)

Sau này, nhờ Nguyễn Đệ, một người bạn đồng chí của ông Ngô Đình Diệm, đang làm Đổng Lý Văn Phòng cho Bảo Đại được nguồn tin mật tình báo cho biết, người Pháp sẽ trừ khử ông Diệm. Nhờ ông Nguyễn Đệ mà ông Diệm kịp thời trốn thoát và xuất ngoại.

Cũng theo tài liệu của cuốn sách “A lifetime in the eye of the storm”, người đưa ra ý kiến là ông Diệm nên đi ra ngoại quốc là bà Ngô Đình Hiệp – người em gái của ông. Người đọc “A lifetime in the eye of the storm” sẽ có một sự ngạc nhiên không nhỏ: Là bất cứ chuyện gì, hay một quyết định quan trọng nào, ông Diệm đều bàn với em gái.

Nhận xét về những người đồng chí từng sát cánh với ông Diệm hay cùng có thời có chung lý tưởng, nhưng sau này hầu như họ không còn có liên lạc với nhau nữa. Người viết nhận ra là ông Diệm có lập trường kiên định chống Pháp nên những người nào theo Pháp, ông Diệm cắt đứt liên lạc như trường hợp Lê Quang Luật, Trần Văn Lý, Phan Văn Giáo, các linh mục Phát Diệm như Hoàng Quỳnh. Riêng giám mục Lê Hữu Từ mới đầu ảnh hưởng lập trường cứng rắn của ông Diệm, sau cũng có thay đổi. Liên lạc giữa hai người, ông Diệm và giám mục Lê Hữu Từ không còn chặt chẽ khi vào đến miền Nam.

Sau nhiều năm trời, người viết bài này mới hiểu được tại sao có sự mâu thuẫn và cắt đứt liên lạc giữa ông Trần Văn Lý, ở miền Trung vốn là một đồng chí thân cận của ông Diệm? Chỉ vì ông Trần Văn Lý đã lập ra đảng Xã Hội công giáo và chủ trương phò Thái tử Bửu Long sau này lên nối ngôi Bảo Đại. Cả hai điều đó đều đi trái với lập trường chính trị của ông Diệm là: tách biệt lãnh vực tôn giáo ra khỏi chính trị, không cộng tác với người Pháp và ủng hộ việc đưa Hoàng Thân Cường Để nối nghiệp nhà Nguyễn.

Cho nên rất nhiều tài liệu sách vở sử học sau này thiếu công bằng đều hô hoán một cách vô bằng là có một chính sách kỳ thị tôn giáo, kỳ thị Phật giáo dưới thời Ngô Đình Diệm.

Nhiều người đã tin chắc chắn như thế. Nhưng nếu căn cứ vào những dẫn chứng ở trên -ai khác thì không biết- Riêng ông Diệm rất e ngại những dính líu của công giáo vào chính trị.

Vậy mà sau này ông đã chết vì chính những điều ông lo ngại.

Ai kỳ thị Phật giáo thì không biết. Nhưng nhất định không phải ông Diệm, ông Nhu cũng như ông Cẩn. Ông Nhu, một người trí thức theo Tây học, nhiễm tinh thần chống giáo trị (Anti-clérical). Đã có mấy ai thấy ông Ngô Đình Nhu trong những buổi lễ công giáo chính thức? Bạn của ông Nhu, bạn đồng chí nếu có tu sĩ công giáo nào thì đó là linh mục Parrel hồi còn ở Đà Lạt. Ông chỉ thực sự vào cuộc trong vụ Phật giáo khi có sự phát động chống chính phủ tại chùa Xá Lợi!

Vì thế không lạ gì, dù rất cẩn trọng, dù rất đề phòng, dù có thừa kinh nghiệm quản trị hành chánh, dù hiểu hết cái tâm tình tôn giáo của con người, ông Diệm lại rơi vào cái bẫy. Yếu tố tôn giáo đã được khai thác đúng lúc tạo nên một phong trào tranh đấu dữ dội đi đến chỗ góp phần vào việc lật đổ chế độ.

Nghĩ lại về điều này, tôi thấy chẳng những đó là điều bất hạnh cho ông Diệm và gia đình ông mà còn là điều bất hạnh cho chế độ cộng hòa non trẻ của chúng ta.

Chỉ đơn giản từ việc treo cờ trong một thông cáo xảy ra không đúng lúc.

Nghĩ lại trường hợp Việt Nam, Ông Diệm dù có là người có đạo đức, có yêu nước, có lý tưởng, nhưng đất miền Nam nhất là đất miền Trung thấm nhuần đạo Phật chưa có tâm thức sẵn sàng để có thể chấp nhận một tổng thống theo Thiên Chúa giáo. Và nói theo ông Ngô Đình Nhu khi trả lời phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc: Chưa có sự trưởng thành về ý thức tôn giáo và chính trị.(12)

Phật giáo ở miền Nam có ba sắc thái rõ rệt: Phật giáo miền Nam, Phật giáo di cư và Phật giáo miền Trung. Trong Phật giáo miền Nam có Hội Phật Học Nam Việt do cư sĩ Mai Thọ Truyền và chùa Xá Lợi. Cạnh đó có Giáo Hội Tăng Già VN do Thượng tọa Thích Thiện Hoa với chùa Ấn Quang và Phật giáo nguyên thủy nhóm Tiểu Thừa với chùa Kỳ Viên.

Các nhóm Phật giáo miền Nam thường có thái độ đứng ngoài chính trị, một thái độ xuất thế của người tu hành.

Nhóm Phật giáo di cư gồm khoảng 200.000 phật tử, nhưng tản mác khắp nơi chỉ có khoảng 100.000 người tụ tập chung quanh Sài Gòn và chia thành hai nhóm. Nhóm thuộc chùa Phổ Quang và Nghĩa Trang Bắc Việt với thượng tọa Thích Trí Dũng. Nhóm đa số và có ảnh hưởng thuộc chùa Từ Quang của TT Thích Tâm Châu.

Riêng Phật giáo miền Trung được coi là đông đảo và có tổ chức và sinh hoạt từ cấp Khuôn hội đến cấp Trung ương ở chùa Từ Đàm.

Phật giáo miền Trung với số lượng Phật tử lên đến 800.000 là thành phần chủ lực trong giai đọan khủng hoảng Phật giáo thời ông Diệm, do hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm hội chủ. Ông là một cao tăng đạo đức đã lớn tuổi nên mọi sự việc hành xử đều do các vị như Thích Trí Quang và Thiện Minh đảm trách.(13)

Điều đó hiểu được khi hiểu rõ tính cách địa lý, xã hội ảnh hưởng trên những cộng đồng một xã hội. Giữa đạo Phật miền Nam và đạo Phật miền Trung có sự khác biệt sâu xa về tâm thức đạo nên cách xử lý, ứng xử cũng vì thế có những phản ứng khác nhau. Cũng một lý do tương tự khi so sánh người công giáo miền Bắc di cư và tín hữu trong Nam, người ta cũng có thể nhận ra sự khác biệt như vậy.

Xét về mặt xã hội, cái thiểu số bao giờ cũng ở thế thiệt thòi nhượng bộ. Sống ở xứ người, chúng ta có thừa kinh nghiệm để đối phó với tình huống thiệt thòi đó.

Và vì thế, kẻ kỳ thị tôn giáo theo nguyên tắc phải đến từ phía đa số.

Đối với tôi, phải sống trong một tình trạng mà tôi gọi đó là nỗi bực tôn giáo trong một đất nước còn chưa phát triển và thiếu một ý thức chính trị dân sự và để cho tâm thức tôn giáo lấn lướt, thay thế.

Ngày nay, người ta càng có dịp hiểu sâu sắc tâm thức đạo thời VNCH khi so sánh tâm thức đạo của dân Hồi Giáo hiện nay. Tôn giáo đã biến thành một bạo lực tôn giáo có thể mù quáng và che mờ lương tri và lẽ phải của con người.

Ngày nay nhìn lại cho thấy sự bùng phát của cuộc khủng hoảng Phật Giáo ra ngoài ý muốn và dự liệu của các các người lãnh đạo miền Nam, dẫn đưa đến cuộc khủng hoảng quyền lực của cả một chính thể. Không một người lãnh đạo miền Nam nào lại có thể ngu dốt muốn loại trừ một tôn giáo lớn như đạo Phật ra khỏi xã hội miền Nam. Nay đọc lại những điều bày tỏ của bà Ngô Đình Hiệp, em gái ông Diệm trong A lifetime in the eye of the storm qua sự ghi chép lại của ông Nguyễn Văn Châu cho thấy nỗi oan nghiệt của ông Ngô Đình Diệm.(14)

Chùa Xá Lợi trở thành trạm thông tin nơi ra vào của các báo chí quốc tế. TT.Trí Quang theo như quan điểm của Nolting thì mục tiêu tối hậu của nhà sư này là lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.(15)

Phật giáo đã bị giật giây và lợi dụng và ông Trí Quang trở thành người lãnh uy tín vượt ra ngoài lãnh vực tôn giáo. Nhưng cũng nhà sư này đã bị chính bàn tay người Mỹ loại bỏ khi lá bài của ông trở thành không cần thiết nữa.

Ba năm sau,1966, ông trở về lại về chùa tiếp tục tu hành và quên đi những giây phút hào quang vì bị một tướng lãnh dẹp tan các phong trào nổi dậy ở miền Trung. Ông đã thắng được một tay mưu lược chính trị như ông Ngô Đình Nhu, nhưng lại thua một tay tướng tay mơ về chính trị.

Cuộc tuyệt thực 100 ngày của ông mà không chết ở bệnh viện Duy Tân chỉ là một lá bài chính với tẩy sất. Nó đã bị vô hiệu hóa một cách nhục nhã.

Câu hỏi còn lại cuối cùng là kể từ đó đến nay, ông đã làm gì và làm được gì cho Giáo Hội Phật giáo trong những tình huống mà đạo Phật có nguy cơ mất đạo?

Ai là người nay có thể là người gánh vác số phận Phật giáo trong cái giờ thứ 25 này?

Còn nhớ thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, người Mỹ đã dùng linh mục Trần Hữu Thanh với lá bài chống tham nhũng.

Rất may, Linh Mục Trần Hữu Thanh thì không phải tầm cỡ Thích Trí Quang và Nguyễn Văn Thiệu thì cũng không phải Ngô Đình Diệm. Nhưng yếu tố chính là miền Nam đã có nguy cơ rơi vào tay cộng sản và mục đích loại trừ Nguyễn Văn Thiệu đã không còn còn là điều cần thiết nữa!

(Còn tiếp)

© 2016 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline minh họa và phụ chú.

(1) Lan Cao, Monkey Bridge
(2) Patrick J. Slovan, The politics of Deception, trang Lời mở đầu.
(3) Charles Keith, Annam Uplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church, 1919–1945 – Annam vùng lên. Những vị giám mục đầu tiên của Việt Nam và sự hình thành giáo hội, giai đoạn dân tộc 1919 -1945, Phạm Minh Ngọc dich, Talawas.org, số mùa Thu 2009.
(4) S.M Bao Dai, Le Dragon d’Annam, trang 63-64
(5) A lifetime in the eyes of the storms, Nguyen Van Chau, Chapter “A time for Indecision”
(6) Tran Thi Lien, Les catholiques Vietnamiens pendant la gue2rre d’inde1pendance (1945-1954) entre la reconque6te Colonioale et la resistance commununiste, trang 363.
(7) Nguyen Van Chau, Ibid., chương 17.
(8) Chinh Đạo, Cuộc Thánh Chiến chống Cộng, trang 388.
(9) Patrick J. Sloyan, Ibid., trang 180.
(10) Patrick J.Sloyan: When the humiliated Forrestall realized what he had done, he submitted hí resignation to the president. Trang 181
(11) Patrick J. Sloyan, Ibid., trang 183
(12) Xem tài liệu về phái đoàn Đoàn Điều tra Liên Hiệp Quôc tại Việt Nam, phỏng vấn ông Ngô Đình Nhu.
(13) Lương Khải Minh, Cao vị Hoàng, Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống, trang 330-331
(14) Nguyen Van Chau, A lifetime in the eye of the storm.Ngo Dinh Hiep, A toufger sister of late President Ngo Dinh Diem
(15) Patrick J. Slovsn, Ibid., trang 138.