Thực trạng tham nhũng hiện nay ở Việt Nam

Đại Ngàn

thamnhungAi cũng biết thực trạng tham nhũng hiện nay là một sự kiện hết sức tiêu cực của xã hội Việt Nam. Nó là một sự việc xấu, đi ngược lại mọi lợi ích xã hội. Tham là lấy về cho mình cái gì không phải của mình. Nhũng là sự sách nhiễu, sự làm hủ lậu cả bản thân cá nhân lẫn xã hội.

 

Phân tích thực trạng tham nhũng hiện nay trong xã hội Việt Nam

Ai cũng biết thực trạng tham nhũng hiện nay là một sự kiện hết sức tiêu cực của xã hội Việt Nam. Nó là một sự việc xấu, đi ngược lại mọi lợi ích xã hội. Tham là lấy về cho mình cái gì không phải của mình. Nhũng là sự sách nhiễu, sự làm hủ lậu cả bản thân cá nhân lẫn xã hội.

Thế nhưng tham nhũng cũng là một thứ bệnh. Muốn chữa lành bệnh một cách hiệu quả không thể không phân tích, tìm hiểu về nó một cách đầy đủ nhất. Điều đó trong y học gọi là chẩn bệnh hay định bệnh, và có nhiều phương pháp thực hiện điều đó. Như chẩn đoán, xét nghiệm vài yếu tố nào đó, hoặc giả nếu cần, có thể phải nội soi hay ngay cả giải phẫu nhằm tìm hiểu mối liên quan phải biết. Nói chung tất cả đều nhằm đáp ứng cho yêu cầu phân tích để xác định kết luận về các nguyên nhân bệnh lý chính.

Do vậy muốn diệt được tối đa nạn tham nhũng hiện nay tại Việt Nam, không thể không đi theo phương pháp như vậy. Vấn đề chỉ là có muốn diệt hay không. Tại sao là có, tại sao là không? Ai là con bệnh, hay ai là người trị liệu? Tất nhiên con bệnh đây không phải cá nhân nào, phần chính cũng không phải chỉ là nhà nước, vì nhà nước cũng chỉ là một pháp nhân. Nhưng con bệnh chính là toàn thể xã hội. Vì xã hội mới là chủ thể cao nhất và bao quát nhất; và trách nhiệm chữa bệnh đương nhiên trước tiên phải là nhà nước, và kế đến là mỗi công dân hay tất cả mọi người tức là toàn dân nói chung.

Nhưng trước khi đi vào phân tích mặt lý thuyết cũng như mặt thực hành hay mặt thực tế về phương diện bệnh trạng cũng như chữa trị, cần phải thấy hay xác nhận được có bao nhiêu loại tham nhũng đang xảy ra hay có mặt. Nhưng điều bất ngờ là từ trước đến nay chưa ai nhận thức thật đầy đủ là nó thật sự có ba loại chính: tham nhũng trong ý thức, tham nhũng trong quyền lợi, và đặc biệt tham nhũng trong quyền hành. Phần lớn người ta chỉ nhìn thấy tham nhũng trong quyền lợi, nhất là quyền lợi vật chất; ít ai thấy nguyên nhân sâu xa của nó chính là tham nhũng về ý thức, tham nhũng về quyền hành, kể cả tham nhũng về mặt quyền lợi tinh thần.

Chẳng hạn đầu óc thụ động của mọi người dân, sự thụ động mang tính bất lực hay dửng dưng của mọi người trước nạn tham nhũng; người có quyền cũng như người không có quyền, không ai thấy có trách nhiệm giải quyết ra sao cả; đó là sự thui chột hay chai lỳ đó về mặt ý thức. Đa số chỉ nhằm sao có lợi về phần mình, còn ai ra sao hay xã hội ra sao cũng mặc. Đó chính là nạn tham nhũng về ý thức; nó là đầu mối cho mọi sự tham nhũng khác về sau. Điều này rất ít người để ý tới. Ý thức thụ động, cầu an, vô cảm chính là cửa ngõ đầu tiên của tham nhũng cho mọi sự kiện tiếp theo mà nhiều người không nhận thức ra được.

Kế đến là sự tham nhũng về quyền hành. Tham nhũng về quyền hành là muốn dành quyền riêng cho mình, giành quyền hành riêng cho mình; làm mọi cách có thể để có được quyền hành mà không cần sự chính đáng nào cả. Đầu óc công thần địa vị, đầu óc muốn chỉ huy lãnh đạo hay muốn ăn trên ngồi trốc thiên hạ; đó là sự tham nhũng quyền hành thường thấy nhất nhưng ít được phân tích hay lưu tâm nhận định. Tuy nhiên đây lại là điều kiện quyết định cho tham nhũng về quyền lợi khác nhau về sau là điều thực tế mà ai cũng có thể nhận ra được. Như vậy rõ ràng người ta chỉ nhìn thấy duy mặt thực tiễn hay thực tế của tham nhũng là tham nhũng về quyền lợi vật chất, tiền bạc; tuy vậy, không ai để ý nhận ra nguyên nhân sâu xa của nó lại chính là sự tham nhũng về quyền hành hay quyền lực và sự tham nhũng trong ý thức vị kỷ. Chúng là điều kiện tiên quyết nhằm giúp thực hiện dễ dàng và thuận lợi hững tham nhũng về quyền lợi.
Như vậy cũng có thể nói, chính tham nhũng về quyền hành mới là tiền đề hay đầu mối hoặc có nguyên nhân liên quan đến mọi sự tham nhũng khác nhau.

Thế nào là tham nhũng quyền hành? Đó là sự vơ vét quyền hành hay tâm lý vơ vét quyền hành đã xuất hiện từ lâu nơi mọi ngành, mọi cấp, mọi người trong xã hội. Việc sợ quyền hành, sự thao túng quyền hành cho dù ở mức độ nhỏ nhất vẫn có thể có. Hai yếu tố hay hai mặt này nó củng cố, hỗ trợ hay bổ sung cho nhau. Vì sợ quyền hành người ta có tâm lý giành lấy hay thao túng quyền hành cho riêng mình, điều đó có thể xảy ra mọi lúc mọi nơi, tạo nên một xã hội chuộng quyền hành. Đó là điều hoàn toàn bất thường và không đúng đắn. Một xã hội chỉ lấy quyền hành làm chuẩn mực là xã hội nô lệ vào quyền hành, bị quyền hành đè nặng không thể cựa quậy hay thoát ra được. Mọi con người trở thành cầu an, sống trong sự thỏa hiệp, hay sống trong sự bất lực trước quyền hành. Đó là tâm lý xã hội mọi người chỉ muốn nuốt trửng nhau, không mấy tôn trọng nhau hay không thấy sự bình đẳng giữa nhau.

Thực chất con người sinh ra trong đời là để sống hạnh phúc. Việc sống hạnh phúc bằng nhiều cách mà mình ưa thích, theo những mục đích khác nhau mà mình lựa chọn, không nhất thiết phải theo xu hướng quyền hành hay quan tâm hoặc sợ hãi đối với quyền hành. Mọi người đều sinh ra tự do bình đẳng; như thế quyền hành đối với nhau không thể tự nhiên có mà do phát xuất từ khái niệm dân chủ tự do căn bản; đây là một ý tưởng mà hầu như, trong suốt thời gian dài, người Việt Nam đều chưa ý thức được hay bị mất đi nhận thức đó. Họ coi quyền hành không phải của mọi người dân, mà quyền hành chỉ thuộc một nhóm người cầm quyền. Họ đều biết nhóm đó là ai. Điều đó phi lý, nhưng họ không có cách nào làm xoay chuyển hay thay đổi được.

Như vậy nguyên tắc dân chủ hầu như bị coi thường khiến mọi người không còn quan tâm hay không còn thiết tha gì nữa; họ cũng không còn hiểu nó một cách đúng đắn, không cần hiểu nó, không cần có nó nữa, hay coi như nó không có. Mọi người vẫn nói tới từ ngữ dân chủ hay tự do, nhưng chỉ nói qua ngôn ngữ thuần túy, không còn thiết tha với nội dung của nó nữa, không còn muốn hiểu hay định nghĩa nó theo cách đúng đắn hay chính xác nào nữa. Chỉ nói để mà nói, đó chính là sự tham nhũng trong ý thức về từ ngữ, tham nhũng đó có khi vô thức, vì nó trở nên một quán tính vô nghĩa mà mọi người phải chìu lòn theo đó, phải nương theo đó để sống, phải sống chung bất đắc dĩ với nó.

Vậy mà trong khi đó thực chất quyền dân chủ gắn liền với quyền tự do của mỗi con người tức là quyền của toàn dân. Không ai tự nhiên có quyền trên trước đối với người khác mà quyền chỉ là sự ủy quyền hay quyền của xã hội trao cho. Không có sự ủy quyền chọn lựa chung của mọi người, không ai tự nhiên có quyền, đó là nguyên tắc căn bản nhất của dân chủ mà ngày nay hầu như mọi người Việt Nam không hiểu ra hay không muốn hiểu ra. Họ mặc nhiên coi quyền chỉ là quyền tự nhiên của một thiểu số nào đó trong xã hội, quyền của đảng cầm quyền, đương quyền. Không có bầu cử tự do là đương nhiên đã không có tự do dân chủ; đó là điều đơn giản nhất mà mọi người Việt Nam ngày nay không cần biết hay không thèm biết tới.

Mọi bầu cử ở Việt Nam đều chỉ là hình thức. Đã có những người được đảng cầm quyền duy nhất chọn sẵn rồi đưa ra cho tập thể người dân bầu. Chỉ có thế thôi. Người được lựa chọn cũng thụ động, người đi bầu cũng thụ động, chỉ có người lựa chọn, đảng cầm quyền duy nhất, là chủ động. Tức không có cử tri đúng nghĩa, không có sự chủ động tranh cử đúng nghĩa, chỉ có hình thức bầu cử diễn ra là đúng nghĩa. Chỉ có quyền chỉ huy, quyền lựa chọn, quyền đạo diễn, quyền cho phép của số người nào đó, trong đảng cầm quyền, đối với toàn thể xã hội là đúng nghĩa.

Ở đây có sự phân hóa phản tự nhiên, phi khách quan của toàn xã hội. Chỉ một nhóm thiểu số nhỏ đương nhiên có quyền, còn đa số còn lại là không có quyền. Nhưng quyền của thiểu số đó thì không ai hỏi do đâu mà nó có? Như vậy có hợp lý hay hữu lý gì không? Sự mặc nhiên có như vậy có đúng nghĩa hay không? Đó cũng như tâm lý mặc nhiên sống chung vỡi lũ, không cần tìm hiểu lũ do đâu mà có hay phải cải thiện hoặc ứng phó chủ động với nó như thế nào. Người có quyền cứ thấy mình đương nhiên có quyền mà không cần giải thích hay không cần nại ra lý do chính đáng nào cả. Người không có quyền thì mặc nhiên nhìn nhận tình trạng đó hoàn toàn đầu hàng và thụ động cho dù trong thâm tâm vẫn ý thức hay nhận thức được điều đó là hoàn toàn vô lý!

Đó là sự tham nhũng quyền hành xảy ra cả về hai phía, phía người tự nhiên tham nhũng hay được quyền tham nhũng quyền hành, và phía người bị tham nhũng quyền hành, tự nhiên mình bị mất quyền hành vào tay phía tham nhũng quyền hành. Phía người có quyền hành hay tham nhũng quyền hành thì tìm mọi cách để duy trì, củng cố, kéo dài, ôm chặt lấy quyền hành của mình.

Còn phía bị tham nhũng quyền hành thì phải thúc mặt vĩ mô về quyền hành và tìm cách giành lại các khía cạnh quyền hành bất chính về mặt vi mô, tức hành động hay tâm lý chạy chức chạy quyền mọi loại. Người có quyền nhỏ thì tham nhũng quyền hành bằng cách đó để có được quyền hành lớn hơn và cứ tiếp tục như thế bằng mọi cách, mọi thủ đoạn. Con người không có quyền nào cả thì chỉ chịu đựng, hi sinh để cống nạp quyền hành thêm cho những người nào đó đã tự nhiên có quyền hành rồi.

Rõ ràng đó là sự suy thoái chung về tâm lý và về thực tế của toàn xã hội. Nó biến thành một xã hội không lành mạnh, một xã hội phải nơm nớp sợ hãi quyền hành; quyền hành của số người đã tự có thì không bị ai kiểm soát, mà chỉ tự họ kiểm soát lấy. Đó là thực tế ai cũng nhận thấy không dân chủ tự do những vẫn cứ thụ động chấp nhận và tự hô lên đó là dân chủ tự do. Nó tất nhiên cũng biến toàn thể xã hội thành một vở kịch lớn, ai cũng đóng vai và ai cũng là khán giả chung trong đó cả. Người mặc nhiên có quyền và người mặc nhiên bị mất quyền mà không còn ai thắc mắc. Thật ra quyền dân chủ tự do của xã hội chỉ có thể có được bằng những cuộc bầu cử tự do dân chủ ủy nhiệm quyền thật sự của toàn dân, đồng thời có sự tam quyền phân lập, đó mới gọi là dân chủ tự do chân chính.

Không ai có thể nhân danh bất cứ điều gì để phá hỏng, đi ngược lại, hay thủ tiêu được dân chủ tự do. Vậy mà sự thủ tiêu đó từ lâu nay đã xảy ra thường xuyên liên tục tại Việt Nam mà không ai lưu tâm đến.

Đó là hiện tượng tham nhũng quyền hành theo kiểu đại trà, vĩ mô mà không còn ai để ý hay đành phải chấp nhận một cách có ý thức hay theo kiểu vô thức. Đó chính là sự tham nhũng bao quát và cơ bản nhất đẻ ra mọi loại tham nhũng khác nhau hoàn toàn đa đoan và đa dạng mọi loại trong thực tế mà ai cũng rõ.

Sự tham nhũng về chính trị dẫn đến sự tham nhũng về quyền hành, dẫn đến sự tham nhũng về xã hội, dẫn đến sự tham nhũng về kinh tế tài chánh, về tiền bạc quyền lợi v.v. Chuỗi lô-gích khách quan đó ai cũng thấy nhưng không ai có quyền bình phẩm hoặc cũng không ai quan tâm bình phẩm tới nữa. Đó là bầu không khí tham nhũng bao quát nhất, bao trùm nhất. Nó khiến toàn thể xã hội bất lực hoặc bị chai lỳ mọi mặt chính là như thế.

Giờ hãy nói tới hiện tượng tham nhũng về ngôn ngữ hay về ý thức ai cũng thường thấy do chính sự tham nhũng về chính trị và về quyền hành mà ra chú không đâu khác. Đó là hệ thống giáo dục và tuyền truyền mị dân công khai mà ai cũng rõ.

Giáo dục, đặc biệt giáo dục về chính trị, chỉ duy nhất một chiều. Hiện tượng tham nhũng trong ý thức về giáo dục là điều hiển nhiên nhất. Giáo dục là khoa học đào tạo con người, nó phải khách quan, đa chiều, tự do dân chủ thực chất. Đằng này giáo dục chỉ có một chiều, như nhắm mắt đề cao lãnh tụ, đề cao quyền hành, đề cao chế độ và bắt mọi người dân phải tin theo như thế.

Đó chính là ý thức và hành động tham nhũng trong tuyền truyền, đào tạo, giáo dục ít được nhận thấy hay phân tích.

Tính cách tuyên giáo hay thông tin đại chúng cũng thế. Đáng lẽ ra nhiệm vụ của tuyên giáo, của thông tin đại chúng là nhằm tôn trọng mọi sự thật khách quan, mọi chân lý khách quan để làm lành mạnh xã hội, xây dựng xã hội. Đằng này tuyên giáo hay thông tin đại chúng cũng chỉ theo cách một chiều là chỉ nhằm phục vụ chính sách, cơ chế quyền lực, phục vụ thiểu số nắm quyền hành mà không nhằm phục vụ người dân hay xã hội hay quần chúng. Đó chính là ý thức tham nhũng trong tuyên giáo và thông tin đại chúng mà ai cũng biết.

Cứ mở truyền hình hay đọc một tờ báo chính thống (báo của giới cầm quyền), nghe luận điệu thông tin chính thống, bất cứ ai cũng nhận ra ngay cách thường xuyên những điều đó. Điều đó đã trở thành quán tính, từ lâu không ai còn để ý đến, không ai còn màng thay đổi nữa. Những người viết bài đọc cho tuyên giáo, cho thông tin đại chúng kiểu như thế chính là lực lượng tham nhũng về ý thức chính trị đã được đào tạo, nuôi dưỡng, sai khiến chỉ nhằm phục vụ cho đảng cầm quyền mà bất chấp người nghe, người đọc; đó là sự tệ lậu nhất mà xã hội luôn chứng kiến. Đây thật là lực lượng tham nhũng về ý thức chính trị đáng ghét nhất mà ai cũng rõ, và tự họ cũng biết vậy. Nhưng ăn cây nào rào cây ấy đó là điều trơ trẽn nhưng không ai có thể hay dám đi ngược lại moi sự sai khiến có chủ ý được. Cũng từ đó mọi tài liệu về lịch sử và về chính trị xã hội hay cả về giáo dục đều cũng chỉ mang hơi hướm của ý thức tham nhũng về chính trị một cách bàng bạc làm băng hoại cả xã hội về lâu về dài khó có thể vươn lên lành mạnh, trong sáng. Có lẽ chắc sau này lịch sử mới có thể tổng kết được.

Nói tóm lại, phân tích một sự kiện hay nhận thức đầy đủ về nó là điều kiện tiên quyết và cơ bản nhất để giải quyết mọi vấn đề thuộc về nó hay liên quan đến nó. Đối với thực tế xã hội tham nhũng của Việt Nam hiện nay cũng phải cần làm như thế. Có nhiều người từ trước đến nay chỉ nói suông, chỉ dừng lại trên danh từ thuần túy, điều đó chẳng dẫn đến đâu cả. Nhiều lắm đó cũng chỉ là những sự ca thán vô ích hay vô bổ, nói theo mọi người, chỉ thừa nhận theo mọi người một thực tế vốn có mà không có ý đồ nhằm giải quyết hay tìm ra lối thoát cho nó.

Chẳng hạn như chỉ biết nói tham nhũng hiện nay là quốc nạn, yêu cầu cấp bách hay quan trọng nhất hiện nay là phải bài trừ tham nhũng, tiêu diệt tham nhũng. Nhưng đó cũng chỉ nói để nói, chẳng mang chút ý thức sâu sắc hay chiều hướng thoát ra nào cả. Muốn giải quyết tận gốc và quyết liệt mọi vấn đề người ta phải khách quan và trầm tĩnh tìm ra chính các nguồn gốc hay nguyên nhân căn cơ nhất của chúng.

Phải thấy nguyên do chính của hiện trạng tham nhũng trong xã hội Việt Nam hiện bay chính là mặt ý thức và thực tế. Mà cả hai mặt này lại bao quát trong thực trạng lớn hơn đó là sự tham nhũng về ý thức chính trị đưa lại thực tế tham nhũng về quyền lực. Từ đó đưa lại mọi thực trạng tham nhũng về quyền lợi thực chất khác nhau chỉ là điều hiển nhiên hay tự nhiên nhất. Mọi con người sinh ra đều tự do bình đẳng. Vậy không lấy bất kỳ lý do gì để một số tự cho mình có quyền độc tài độc đoán trên người khác, trên mọi người khác. Đó chính là bước đầu tiên của tham nhũng về ý thức.

Nhân danh cái gì? Nhân danh ý thức hệ, nhân danh sự truyền nối quyền hành tự nhiên kiểu phong kiến quân chủ của thời xa xưa, tất cả ngày nay đều phi lý và ngược ngạo. Có nghĩa người ta không thể nhân danh gì cả, kể cả nhân danh chính mình mới là người có khả năng điều hành hơn người khác; sự nhân danh đó càng bậy bạ, vì không cá nhân nào có quyền tự phong vì chưa chắc đó đã là thực chất, mà dầu có thực chất cũng không thể tự mình đoạt quyền xã hội mà phải qua mọi phương thức tự do dân chủ đúng đắn nhất.
Đó là nguyên tắc bầu phiếu khách quan, sự kiểm soát tam quyền phân lập, tính cách thử nghiệm qua nhiệm kỳ, nguyên tắc ủy quyền và kiểm soát tối cao của toàn dân. Đó đều là những nguyên tắc khách quan khoa học và hiệu quả nhất.

Nên dân chủ không phải chỉ là một kiểu ý thức hệ như Mác đã có lần từng nói. Theo Mác, đó là ý thức hệ tư sản, mà thực chất dân chủ chỉ là nguyên lý khoa học khách quan muôn đời của lịch sử loài người. Như thế phản lại dân chủ cũng chỉ có nghĩa là phản lại xã hội, phản lại loài người. Ý nghĩa của dân chủ quan trọng như thế nên đi ngược lại dân chủ chính là sự tham nhũng đầu tiên về ý thức xã hội, là nền tảng đầu tiên của tham nhũng về chính trị; tạo ra sự tham nhũng về quyền lực, sự độc tài độc đoán, để từ đó nó là cha đẻ tạo ra của mọi loại tham nhũng cá nhân và xã hội khác nhau mọi loại trong đời sống thực tế của xã hội. Vì vậy muốn bài trừ tham nhũng, tức muốn quy về lại với xã hội khách quan, trong sáng, lành mạnh, trước tiên hết phải quay lại với các nguyên tắc và quy luật dân chủ chính thống nhất.

Đó là yêu cầu hoàn toàn khách quan, thiết yếu và quyết định. Bởi vậy đây là đề tài để mọi nhà khoa học, mọi học giả, mọi nhà đấu tranh dân chủ, mọi người trí thức ở khắp nơi cần nên thảo luận, nhận xét tiếp để tìm ra một hướng đi đúng đắn và hiệu quả cho xã hội nước ta ngày nay mới là việc phải cần làm tiên quyết và thực tế nhất.

Phải tìm ra nguyên nhân đích thực của mọi vấn đề để mới có thể giải quyết được mọi hệ quả tự nhiên nhất của mọi vấn đề. Đó chỉ là sự thật hiển nhiên mà rõ ràng bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy ra được. Không làm được như thế chắc chắn vấn đề cứ luôn luôn còn đó, nên sự khác nhau giữa nói suông và sự nhận chân về thực tế chỉ chính là như vậy.

5/12/16

Giản đồ tiến trình giải quyết vấn đề khoa học xã hội hay khoa học kỹ thuật. Nguồn: DCVOnline.

Giản đồ tiến trình giải quyết vấn đề khoa học xã hội hay khoa học kỹ thuật. Nguồn: DCVOnline.

© DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


Nguồn: Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.

2 comments on “Thực trạng tham nhũng hiện nay ở Việt Nam
  1. Nguyễn Trọng Dân says:

    Thực trạng tham nhũng tại Việt Nam

    Tham nhũng tại Việt Nam lan tràn là vì cả xã hội, do bị chuyên chế toàn trị bởi ý thức hệ Cộng Sản (CS) nên mọi người không còn con đường nào khác để tiến thân, để thành công ngoại trừ dựa dẫm hay trở thành công chức chính quyền. Từ đó, lũng đọan, tranh dành, mua chuộc, thao túng để có thể trở thành công chức chính phủ hay có được quyền thế hậu thuẫn xảy ra.

    Muốn làm báo, phải vào đảng. Muốn làm quân nhân sĩ quan, phải vào đảng. Muốn làm siêu sao điện ảnh, cũng phải vào đảng hoặc đóng phim do đảng phê chuẩn. Muốn làm triết gia phải phục vụ lý luận cho đảng. Muốn làm khoa học gia, cũng phải có lập trường thuận theo đảng. Muốn làm thương gia, hay kỹ nghệ gia phải có móc nối liên hệ với đảng, etc…. Cho nên chính quyền hay đảng trở thành một nơi gia nhập đễ trục lợi, để tồn tại như là bắt buộc.

    Tham nhũng có chân rễ toàn trị độc đoán như vậy nên phát triển vững chắc ở mọi ngã ngách của xã hội.

    Mọi mặt của xã hội nếu được phát triển tự nhiên và tự do, thì nhà văn tiến thân theo hướng văn nghiệp một cách tự nhiên, thuơng gia tiến thân theo huớng doanh nghiệp một cách tự nhiên, khoa học gia, triết gia làm việc và tiến thân theo ngành nghề của mình một cách tự nhiên. Độc tài toàn trị buộc mọi người hoặc là nằm trong hệ thống chính quyền để tiến thân, hoặc là bị đè đầu cởi cổ bởi chính quyền. Từ đó, chính quyền trở thành một tổ chức để trục lợi bản thân hơn là thực thi công dụng cần thiết một cách tự nhiên của chính quyền cho xã hội.

    Cho nên, thực trạng tham nhũng tại Việt Nam là hệ quả của một xã hội mà mọi hướng phát triển sinh sống thành đạt của con người trong xã hội đã bị bóp nát bởi chuyên chế ý thực hệ CS và chỉ trừ khi trở thành đảng viên đảng CS hay trở thành công chức chính phủ để trục lợi mới có cuộc sống thật sự sung túc, hay có cơ hội tiến thân thành đạt

    Nay Kính – NTrD

    • NON NGÀN says:

      MỘT TÍNH CHẤT BẤT THƯỜNG CỦA XÃ HỘI CON NGƯỜI

      Nếu bình tâm mà xét và xét đến kỳ cùng của mọi sự việc một cách khách quan, chính xác, nghiêm cẩn, ngay từ thời xa xưa đến nay chưa hề có học thuyết nào tác động cách tiêu cực nhất đến con người và nhân loại cho bằng học thuyết Mác. Điều này chỉ những ai còn đứng ngoài được học thuyết đó ngày nay mới thấy song những ai đã vào trong quỹ đạo của nó theo cách nào đó rồi chẳng bao giờ thấy được hay không cách nào chịu thấy điều đó. Cái trớ trêu hay kết cục tiêu cực nhất luôn luôn có của học thuyết Mác là như thế. Con người dính vào nó rồi như dính vào một cái bẫy chẳng khi nào gỡ ra được. Tính cách bi hài trong quá khứ của nhân loại tức nhân dân nhiều nước trên toàn thế giới khi đã vào quỹ đạo của học thuyết Mác đều là như thế. Nên nói về người cộng sản, nói về xã hội hay chế độ cộng sản ở khắp nơi mà không cần cụ thể nơi nào, đó đều chỉ là sản phẩm của học thuyết Mác mà không phải gì khác. Chính cái nguyên nhân hay cái di lụy của nó làm nên tất cả, lỗi hoàn toàn không phải ở con người hay xã hội đi theo nó hay bị áp chế, áp đặt bởi nó. Điều đó cũng giống như khi một số người nào đó vì lẽ gì bị nhốt vào một hang đá không cách nào ra được, thật ra không phải những người đó muốn như vậy, nhưng đó hoặc là do họ đã đi lạc, hoặc có ai đó nhốt họ, không ai tự nguyện hoặc sáng suốt làm điều đó cả, vì bản chất của hang đá đều chỉ là thế không bao giờ đổi được hay không khi nào khác hơn được.

      Mọi ý nghĩa nền tảng thiết yếu nhất đó của học thuyết Mác là do ba điều : Nó gây nên một ảo tưởng về xã hội lý tưởng đó là nguyên nhân làm nhốt được con người, nó tạo nên cơ chế xã hội khiến con người bị nô lệ chặt chẽ vào nhau do áp dụng nguyên lý chuyên chế, nó áp dụng nguyên tắc vô sản khiến cho cái dốt, cái xấu trở thành nền tảng của tồn tại thường xuyên trong xã hội. Điều thứ nhất là sự ảo tưởng làm xã hội phải hi sinh tất cả. Nếu hi sinh tất cả mà được mọi cái điều đó cũng bào chữa được chẳng có gì đáng nói. Thế nhưng hi sinh tất cả mà không được gì cả, không tới đâu cả trong suốt cả thời gian dài trên dưới cả thế kỷ trong xã hội loài người, ở các quốc gia từng lở áp dụng theo nó, đó là điều cay chua và đau xót nhất. Đó là cái người ta gọi mất cả chì lẫn chài. Sự hi sinh mọi sự từ tinh thần đến vật chất, nhất là tinh thần và ý thức tự do, đó là lỗi lầm hay có thể nói là tội lỗi kể cả đôi khi là tội ác của lý thuyết Mác. Hy sinh bao con người, hi sinh bao thế hệ, hi sinh toàn xã hội về mọi mặt, cả những người làm cho người khác phải hi sinh, hay những người chỉ là nạn nhân thuần túy, đó chính là lầm lỗi theo chiều dài lịch sử ở rất nhiều nơi từng do học thuyết mang mang lại. Một bộ phận nhân loại rõ ràng trở thành nạn nhân của nó, nạn nhân về thể xác chết chóc, về sự nghèo đói thiếu thốn, kể cả về tinh thần và ý thức nhân văn, nhân bản phải bị cùn lụt mất mát đi hết, đó chính là điều tiêu biểu về sự di hại lớn nhất của học thuyết Mác.

      Sở dĩ như thế vì nó gây nên tình trạng hay kiểu xã hội mà con người bị khống chế bởi con người. Chẳng khác nào một rừng cây đều bị buộc thắt vào với nhau bởi một cách nào đó, hay một bầy sinh vật bị cột buộc với nhau theo những sợi dây nào đó không còn nào còn tự do hoạt động độc lập được nữa. Đó chính là trạng thái cơ chế xã hội. Một loại xã hội độc đoán độc tài toàn trị do nghệ thuật của Lênin xác lập lên được dựa trên quan điểm học thuyết chuyên chính vô sản của Mác đã trở nên một thực trạng hay thực tế ngàn đời không đổi, không ai thoát ra khỏi nó được kể cả những người tạo ra nó hay cầm quyền áp dụng nó. Đó là một bi hài kịch của xã hội mà xuyên suốt cả lịch sử nhân loại kể từ xa xưa nhất cũng chưa hề bao giờ lại có kiểu xã hội giống thế cả. Ý nghĩa không những nó được tổ chức dựa trên bạo lực cưỡng chế mà còn dựa trên danh từ và ý thức giả tạo. Chính danh từ ý thức giả tạo củng cố cho tính cưỡng chế bạo lực thực tế cũng như ngược lại. Con người cá nhân cũng như toàn bộ xã hội liên quan bị cột chặt, bị gói gọn bao trộn trong cả hai thứ đó thì có thánh cũng đều phải im hơi đành chịu, vì nếu nói hay hành vi khác đi đều bị cả hai thứ đó tém vào lại, đó chinh là thành quả thực tế của Lênin và thành quả lý thuyết của Mác đã mang lại như thế, tạo thành một căn bệnh kinh niên không thể nào chữa nổi. Nó cũng như một thứ bẫy mà khi đã lọt vào đó xã hội không có tài thành nào để thoát ra được nữa.

      Đó chính là cái mà người ta gọi là ý thức hệ mác xít. Nó làm cho con người và xã hội đều không còn tự vệ được. Bởi mọi cái tự vệ nào đó đều bị coi là phản động, đều bị chụp mũ là phản động, thế là mọi người đều phải chịu phép đều phải thúc thủ. Chính hậu quả tiêu cực lớn lao nhất của học thuyết Mác mang lại cho lịch sử xã hội loài người trong giai đoạn nhất định ở nhiều nơi nào đó chính là điều này mà không gì khác. Xã hội và mọi người luôn phải làm theo lệnh và nói theo lời, có đúng hoặc sai cũng phải tin là đúng không được cãi lại kể cả giai đoạn sau có khác đi với điều đó cũng bắt buộc phải cho là đúng không thể nghĩ khác được. Tức mọi cái sai phải được coi là cái đúng thường xuyên, chính sự nghịch lý và sự mâu thuẫn tối đa của nhận thức toàn xã hội đã đến mức hoàn toàn tuyệt đối phi lý là như thế. Lấy cái sai thường xuyên làm cái đúng thường xuyên cho dù bất cứ chiều hướng thay đổi trong thực tế khác nhau của nó thế nào, đó thật là sự vong thân, sự đánh mất bản thân của cá nhân con người và toàn thể xã hội do học thuyết Mác mang lại trong thực tế một cách phi nhân và chua xót nhất mà chắc cả bản thân Mác từ xưa cũng chẳng bao giờ thấy vì tính ngụy biện và tính mù quáng bất chất mọi điều thực tế của ông ta.

      Và nền tảng tối hậu nhất của hai điều trên chính là học thuyết quan điểm đấu tranh giai cấp của Mác. Đây là khái niệm sai lầm tai hại nhất trong thực tế của Mác. Ai cũng biết quy luật đấu tranh là quy luật tự nhiên của vạn vật, nó xảy ra cho từng cá thể là điều tự nhiên. Đằng này Mác chỉ quy vào giai cấp một cách võ đoán và mê muội, sai lầm, đó là cái dốt thượng đẳng của Mác. Từ bỏ cái hiện thực để lấy cái trừu tượng, giống như người say thuốc phiện, chỉ sống say mê bằng ảo giác mà không hề thực tế chút nào nữa. Vả chăng quy luật đấu tranh của vạn vật luôn có hai mặt, đó là mặt tiêu cực nhưng cũng có mặt tích cực mà nhiều khi chính mặt tích cực là chính yếu và là cứu cánh duy nhất. Vậy mà trên quan điểm của Mác chỉ có mặt tiêu cực là được thổi phồng lên cả, nó trở thành đấu tranh tiêu diệt, đấu tranh hủy diệt trong thực tế để nhằm xây dựng cái viễn cảnh ảo tưởng trong tương lai không bao giờ đạt được, đó thật là sự mê lý kiểu ma túy của Mác và học thuyết ông ta kết cục chỉ có thể trở thành tội đồ với toàn xã hội và lịch sử loài người đều không đi ra ngoài như thế.

      Thật ra con người về mặt hiện tượng hay bề ngoài chỉ là một dạng sinh vật, do đó tràn đầy bản năng tự nhiên như mọi loài vật khác. Thế nhưng giá trị chiều cao của nội dung bên trong của con người lại là giá trị nhân văn và ý thức nhân bản, đó là ý nghĩa tinh thần của con người. Như vậy ý nghĩa sau cùng của con người cá nhân và xã hội là phải cần đào tạo, giáo dục mới thành người có tri thức có đạo đức không phải tự nhiên mà có được. Vậy mà Mác chỉ chủ trương duy vật và chủ trương giai cấp theo kiểu mù quáng mọi mặt, đó thật là điều ngu dốt lỗi lầm và tội ác chưa từng có trong lịch sử loài người của học thuyết Mác. Bởi xã hội loài người là phải sống hỗ tương với nhau, người tốt làm nâng cao người xấu, người hiểu biết làm nâng cao xã hội mọi mặt, nó cho cùng trí thức và đạo đức mới là động lực muôn đời làm loài người tiến hóa. Đằng này Mác chỉ thế vào đó nguyên tắc biện chứng luận chuyên chính vô sản quả là điều mê muội không từng khoáng hậu. Tức là một sự đảo lộn hay đảo ngược lịch sử xã hội mà Mác đã từng hô hào thực hiện. Đưa những người có bản chất kém, có tri thức hiểu biết hạ chế lên cầm quyền xã hội, khống chế xã hội, đào thải mọi tinh hoa mọi trí thức khác nhau của xã hội, đó là sự nguy dốt tột cùng của Mác dưới danh nghĩa đấu tranh giai cấp, dưới danh nghĩa biện chứng duy vật và biện chứng lịch sử. Đó chính là điều phản khoa học, phản thực tế, phản nhân văn, phản xã hội, phản lịch sử mà Mác chính là người xiển dương ra mà chẳng ai khác. Cho nên vì thế có thể nói chính Mác là người đầu mối của mọi sai lầm trong lịch sử xã hội đã có mà không phải những người cộng sản. Những người cộng sản thực tế chỉ là nạn nhân hay chỉ là di lụy của học thuyết Mác. Ngay cả Lênin cũng thế, ông này hoặc cũng chỉ là nạn nhân như mọi nạn nhân khác, hoặc nếu không thì ông ta cũng chính là người lợi dụng học thuyết Mác để củng cố tham vọng quyền lực riêng của mình như mọi lãnh tụ cộng sản ngay từ đầu ở mọi nơi mà không phải gì khác cả. Đấy cái tai hại của học thuyết Mác và chế độ xã hội mà nó mang lại là tiêu diệt phản biện, cấm tuyệt phản biện, không chấp nhận phản biện, đó chính sự nguy hại kinh hồn của nó là như thế. Giống như người say chẳng chấp nhận ai bảo mình say nên cứ mãi sai hoài là vậy. Nhưng say đây không phải say rượu thường mà say kiểu nha phiến, nó đi vào cả hành vi lẫn não trạng, và người mang lại tình trạng ghê hồn đó cho xã hội loài người từ xưa nay chính là Mác mà không ai khác. Say mà không bao giờ thoát ra khỏi được điều say, say mà cấm mọi người chỉ ra cho thấy là mình say, đó thật là điều tệ hại nhất trong lý thuyết do bản thân Mác đưa ra và cả những tệ hại trong thực tế của nó mang lại cũng chính là điều đó mà mọi người ngày nay đều càng dần dần nhận ra rõ cả. Tội làm cho con người mất tự do, làm xã hội mất tự do, nghĩa là làm trì trệ và khống chế con người và xã hội loài người về mọi mặt, khiến dậm chân tại chỗ hay thụt lùi và không tiến lên được, không phát triển hay phát huy khách quan theo cách tối đa mọi mặt được, đó chính là tội lỗi ngàn đời của học thuyết Mác trong lịch sử loài người mà kể cả đến ngày nay không phải mọi người đều có thể nhận ra hết.

      THƯỢNG NGÀN
      (15/12/16)