Phải nói

Ted Osius | Trà Mi dịch

Khi John Kerry nhận lời tuyên thệ để tôi trở thành đại sứ Mỹ tại Việt Nam vào năm 2014, tôi đã nói rằng đó là một “giấc mơ trở thành sự thật” để được là đại diện của nước Mỹ phục vụ tại một một quốc gia mà tôi yêu mến từ hơn hai mươi năm qua.

Sự tôn trọng, Niềm tin và Quan hệ đối tác: Giữ đúng đường ngoại giao trong lúc khó khăn

Nhiệm kỳ dài ba năm với tư cách đại sứ ở Hà Nội là điểm cao của 30 năm sự nghiệp của tôi ở Bộ Ngoại giao và cũng là vinh dự của một đời người. Đỉnh điểm của nhiệm kỳ đại sứ đó là lần đón tiếp Tổng thống Barack Obama trong chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam. Ở thành phố Hồ Chí Minh, một triệu người đã ra chào đón ông, và tôi biết chúng tôi đã làm điều gì đó đúng.

Tôi rất biết ơn Ngoại giao đoàn, không chỉ vì đặc ân và niềm vui suốt ba thập niên phiêu du của tôi (phần lớn ở Châu Á), mà còn cho cả gia đình tôi. Cách đây 13 năm rưỡi tôi gặp nhà tôi trong một cuộc họp chuyên ngành của GLIFAA (tên gọi trước đây là Người đồng tính và Phụ nữ đồng tính trong những Cơ quan Ngoại vụ), một nhóm quan hệ với với nhân viên (ngoại giao). Mặt khác Ngoại giao đoàn đã cho chúng tôi một cháu trai 4 tuổi và cháu gái 3 tuổi.

Sự nghiệp ngoại giao cũng cho phép tôi có được một đặc ân lớn để phục vụ một cái gì đó lớn hơn bản thân mình: đó là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Vì vậy, trong những cảm xúc buồn vui lẫn lộn tôi đã quyết định từ chức vào năm 2017 cùng với một số một công chức cao cấp khác đã chọn ngõ đi ra khỏi bộ Ngoại giao. Trong khi mỗi người chúng ta đều có những lý do khác nhau để bỏ đi, nhiều bạn bè và các đồng nghiệp cũ của tôi rất lo lắng về hướng đi và chính sách của chính quyền hiện tại, như tôi. Tôi sợ rằng một số chính sách đang làm giảm vai trò của Mỹ trên thế giới và quyết định rằng tôi không thể, với lương tâm chức nghiệp, thực hiện được những chính sách đó.

Nhiều người trong chúng ta, những người quyết tâm tăng cường vai trò của Mỹ ở Châu Á, cho rằng từ bỏ Hiệp định Thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương là một vết dao tự chém. Mỹ đã bỏ lại sân chơi cho những người không chia sẻ giá trị của chúng ta, và bỏ mất công việc làm của người Mỹ ở đó. Những người khác lại buồn phiền về việc Hoa Kỳ đã chối bỏ trách nhiệm về biến đổi khí hậu, đặc biệt là trong một năm có nhiều cơn bão lớn đến nỗi chúng chỉ có thể xảy ra một lần trong mỗi 500 năm. Một số lớn các đồng nghiệp của tôi đã lên tiếng phản đối cái gọi là “cấm người Hồi giáo đến Hoa Kỳ”, một điều đáng ghê tởm ở một quốc gia có sức mạnh thực sự xuất phát từ sự đa dạng của nó. Điều gì đã xảy ra với quốc gia đã hân hoan đón nhận “những người mệt mỏi, những kẻ nghèo khổ, đám đông lộn xộn đang khao khát được thở hơi thở tự do”?

Sát sườn

Và rồi các vụ sỉ nhục đã xẩy ra ở sát sườn. Tôi được yêu cầu phải ép chính phủ Hà Nội nhận lại hơn 8.000 người ở Hoa Kỳ, hầu hết là những người đã trốn khỏi miền Nam Việt Nam bằng thuyền vượt biển và bằng đường bộ, băng rừng vượt biên trong những năm sau chiến tranh.

Phần lớn những người nằm trong mục tiêu bị trục xuất — đôi khi vì những vi phạm nhỏ — là những người tị nạn chiến tranh đứng về phía Hoa Kỳ, trung thành với lá cờ của một quốc gia không còn nữa. Và nhiều chục năm sau đó họ bị “trả lại” cho một quốc gia do chế độ cộng sản cai trị. Một chế độ mà họ chưa bao giờ hòa giải. Tôi e rằng rất nhiều người sẽ trở thành những vụ kiện về nhân quyền, và chính phủ của chúng ta sẽ là kẻ phạm tội.

Tôi đánh giá rằng chính sách ghê tởm này sẽ phá huỷ cơ hội thành công của chúng ta trong việc theo đuổi các mục tiêu khác của Tổng thống Donald Trump về các mối quan hệ với Việt Nam: giảm thâm hụt thương mại, tăng cường quan hệ quân sự và đối phó với các mối đe dọa hòa bình ở khu vực. Tôi đã lên tiếng phản đối, được chỉ thị phải im miệng, và quyết định có một lằn ranh đạo đức mà tôi không thể vượt qua nếu tôi muốn giữ sự liêm chính của mình. Tôi kết luận rằng tôi có thể phục vụ đất nước tôi tốt hơn từ bên ngoài chính phủ bằng cách giúp xây dựng một trường đại học mới, đổi mới ở Việt Nam.

Treaty Room, Bộ Ngoại giao Mỹ. Nguồn: Allan Greenberg Architect

Trong một buổi lễ tại Phòng Hiệp ước (Treaty Room) tại Bộ Ngoại giao, trên tường treo một bức chân dung của Thomas Jefferson, tôi đã có cơ hội để hồi tưởng về ba mươi năm phục vụ, phía sau tôi những lá cờ của các quốc gia mà tôi đã phục vụ khi mới là nhân viên ngoại giao đến khi là cán bộ cao cấp. Nhà tôi, một người Mỹ gốc châu Phi, đứng bên cạnh tôi. Con chúng tôi, hai cháu người Mỹ gốc Mễ, đang ở ngồi trên vai chúng tôi trong khi Phụ tá Thứ trưởng Constance Dierman công nhận những hy sinh của Ngoại giao đoàn, gồm cả những hy sinh của gia đình tạo của cán bộ. Bậc thầy của tôi 26 năm qua, Đại sứ (hồi hưu) Cameron Hume, đã trao cho nhà tôi một lá cờ Hoa Kỳ.

Tôi nhắc lại cho những bậc thầy, những đàn em, những đồng nghiệp, bạn bè và người trong gia đình đang có mặt trong buổi lễ lời từ giã của một cán bộ ngoại giao khác, Tom Countryman, khi ông nghỉ hưu:

“Chúng ta phải giữ vững các nguyên lý của mình, kiên định trong lý tưởng của chúng ta, và chúng ta không mệt mỏi trong quyết tâm bảo vệ Hiến pháp chống lại tất cả kẻ thù trong và ngoài nước.”

Bây giờ hơn bao giờ hết. Những thách thức đối với Bộ Ngoại giao và nền dân chủ của chúng ta đang hiện sinh. Một số người vẫn ở lại Bộ Ngoại giáo cảm thấy đang bị vây hãm và nản lòng. Tuy nhiên, tôi kêu gọi các nhân viên Ngoại giao đoàn, những người tin tưởng vẫn còn có thể tạo ra sự khác biệt nên ở lại, nếu có thể, vì đó vẫn là một đặc ân để phục vụ đất nước chúng ta. Tôi tiếp tục tin rằng ngôn ngữ của người ngoại giao có kinh nghiệm, chuyên môn khu vực và sự hiểu biết sâu sắc về một thách thức toàn cầu sẽ sáng giá, và cho cá nhân đó cơ hội để thay đổi một chút lịch sử.

Sức mạnh của sự tôn trọng

Đối với những người muốn ở lại và những người yêu quý ngành ngoại giao như tôi, tôi xin đưa ra một vài suy nghĩ về những gì có thể làm để phục vụ Hoa Kỳ tốt nhất, ngay cả trong những thời điểm khó khăn. Tôi đã học được ở ba nơi công vụ gần đây nhất của tôi ở — Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam — về sức mạnh của sự tôn trọng, niềm tin và sự hợp tác. Hoa Kỳ là một nước lớn, và khi chúng ta bày tỏ sự tôn trọng nó sẽ có tác động lớn. Bày tỏ sự tôn trọng có nghĩa là tìm ra điều thực sự, thực sự quan trọng đối với các đối tác của chúng ta và xem trọng những điều đó. Nó không tốn gì cho nước Mỹ và chúng ta gần như được tất cả.

Bày tỏ sự tôn trọng là xây dựng niềm tin. Sự hợp tác thực sự và mạnh mẽ chỉ đến khi chúng ta xây dựng được niềm tin. Và chúng ta xây dựng niềm tin bằng cách tìm kiếm những điểm hội tụ lợi ích, và sau đó làm việc với nhau. Công việc của nhà ngoại giao là tìm ra những lợi ích chung và làm cho chúng trở thành căn cứ của hoạt động của chúng ta. Tất cả những dây cáp, tất cả những mối liên lạc trong công việc, và cả ở ngoài phạm vi công việc — tất cả sẽ dẫn đến hành động.

Hợp tác thực sự, mạnh mẽ đến khi chúng ta xây dựng niềm tin. Và chúng ta xây dựng niềm tin bằng cách tìm kiếm những điểm lợi hội tụ ích, và sau đó làm việc với nhau.

Dưới đây là ba ví dụ:

Ấn Độ. Các cuộc thí nghiệm hạt nhân của Ấn Độ đặt quốc gia này ra khỏi chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân. Một mối quan hệ đối tác thực sự chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta chấm dứt sự tẩy chay. Vì vậy, Hoa Kỳ bày tỏ sự tôn trọng và xây dựng niềm tin bằng cách theo đuổi một sáng kiến hạt nhân-dân sự với Ấn Độ.

Indonesia. Các lực lượng đặc biệt của Indonesia đã phạm những tội ác trong chế độ Suharto, vì vậy chúng ta không cam kết gì với họ. Một mối quan hệ đối tác thực sự chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta chấm dứt việc tẩy chay. Chúng ta đã thể hiện sự tôn trọng và xây dựng niềm tin với Indonesia bằng cách liên kết lại với các lực lượng đặc biệt đó, trong khi vẫn tôn trọng các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

Việt Nam. Cuộc chiến đã để lại những vết sẹo khổng lồ. Một mối quan hệ đối tác thực sự chỉ có thể nếu chúng ta đối xử thành thật với quá khứ. Chúng ta đã thể hiện sự tôn trọng và xây dựng niềm tin với Việt Nam bằng cách theo đuổi kế toán đầy đủ nhất những thiệt hại, tháo bỏ bom mìn chưa nổ và dọn sạch dioxin. Và chúng ta đã thành thật và tôn trọng ngay cả với những khác biệt sâu xa nhất của chúng ta với Việt Nam về nhân quyền.

Xây dựng quan hệ đối tác

Khi tôi viếng thăm Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1996, một năm sau khi chúng ta bình thường hóa quan hệ ngoại giao, hai quốc gia của chúng ta khó có thể hình dung được một mối quan hệ hợp tác. Quá khứ là một gánh nặng, và sự khác biệt trong hệ thống chính trị của chúng ta không thể hòa hợp được. Nhưng Việt Nam đã và vẫn có những người lãnh đạo cam kết tìm kiếm những điểm hội tụ lợi ích và sau đó cùng nhau làm việc. Và Hoa Kỳ có các người lãnh đạo như Thượng nghị sĩ John McCain (R-Ariz.), Cựu Ngoại trưởng John Kerry và sau đó, Tổng thống Obama, người cũng đã cam kết với sự hợp tác toàn diện của chúng ta (với Việt Nam).

Vì vậy, cùng nhau, hai nước của chúng ta tăng cường quan hệ thương mại và an ninh và giữa người với người. Trong nhiệm kỳ làm việc với tư cách đại sứ, chúng ta đã chuẩn bị không phải chỉ một, mà những hai chuyến viếng thăm của tổng thống Mỹ tới Việt Nam, cũng như các chuyến đi thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Xây dựng niềm tin không phải là chuyện dễ, bởi vì chúng ta phải tiếp tục xứng đáng có được nó. Chúng ta phải làm những gì chúng tôi nói chúng ta sẽ làm. Chẳng hạn, chúng ta đã hứa với người dân Việt Nam rằng chúng ta sẽ tiếp tục dọn sạch chất dioxin, còn được gọi là Chất màu Da cam, còn lại từ thời chiến tranh. Bởi vì tiến trình dọn sạch chất dioxin rất tốn kém, phải mất ba năm để tìm được tài nguyên để hồi sinh nhưng khu vực lớn nhất, nhiễm độc nhất. Việc chúng ta đang tiến hành dọn sạch chất dioxin là kết quả của sự lãnh đạo kiên định và bền bỉ qua nhiều chính quyền. Và bằng cách giữ lời hứa, chúng ta củng cố niềm tin, vì lợi ích của Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới.

Tôn trọng và niềm tin không phải là trỏ tổng số bằng số không, cũng không phải là chuyện trao đổi. Chúng liên quan đến các mối quan hệ, chứ không chỉ là tiền bạc và quyền lực. Sự thống trị của quân đội sẽ không tạo ra các liên minh và quan hệ đối tác mạnh mẽ mà chúng ta cần ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.

Những mối quan hệ đối tác đó mang lại những lợi ích thực tế, hữu hình cho Hoa Kỳ. Hợp tác chặt chẽ với Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam tạo công ăn việc làm cho người Mỹ, đóng góp cho sự ổn định của khu vực và giúp chúng ta giải quyết những thách thức toàn cầu đối với sức khoẻ con người, môi trường và an ninh quốc tế.

Khi chúng ta cam kết với những quan hệ đối tác đó — và tôi đã thấy điều này nhiều lần — chúng ta tạo những quan hệ thương mại trị giá hàng trăm tỷ đô la và thúc đẩy trao đổi giáo dục, tạo ra hoặc hỗ trợ hàng trăm ngàn công việc làm tại Hoa Kỳ. Chúng ta hình thành quan hệ đối tác an ninh với các quốc gia chia sẻ mối quan tâm của chúng ta đối với các con đường hàng hải mở và duy trì luật pháp quốc tế. Chúng ta tạo ra một nước Mỹ thịnh vượng và an toàn hơn.

Đừng bỏ cuộc

Trước khi rời nhiệm sở, tôi đã yêu cầu các đồng nghiệp của tôi đừng bỏ cuộc. Ngay cả ở vai trò là đại sứ (và do đó là đại diện cá nhân của tổng thống) tôi không thể thành thật với lương tâm thực hiện một số chính sách nào đó, tôi nghĩ rằng các đồng nghiệp trẻ tuổi của tôi có thể sẽ phải đối phó với một sự lựa chọn khác. Trong những năm đầu sự nghiệp ngoại giao, tôi đã nghĩ đến việc rời khỏi Bộ Ngoại giao khi phục vụ ở Nam Hàn, tôi đã không đồng ý với cách đối xử của chính quyền Mỹ đối với Bắc Hàn. Nhưng tôi vẫn ngồi yên, tin rằng con lắc sẽ quay trở lại và tôi có thể làm tốt hơn bằng cách ở lại hơn là rời bỏ nhiệm sở ngoại giao. Đã có nhiều thời kỳ khó khăn xẩy ra cho giới Ngoại giao, và chúng tôi đã vượt qua những giai đoạn thăng trầm đó.

Bây giờ, từ quan điểm của một cựu nhân viên Ngoại giao, tôi xin có những gợi ý sau đây cho những ai tiếp tục theo đuổi sự nghiệp ngoại giao:

  • Miễn là bạn có thể luôn chân thành với niềm tin và đạo đức của mình, đừng bỏ cuộc. Chúng ta đã trải qua những giai đoạn khó khăn trước đây. Chúng sẽ kết thúc.
  • Phát triển năng khiếu ngôn ngữ và chuyên môn khu vực. Nó sẽ tiếp tục bất chấp mọi việc.
  • Bày tỏ sự tôn trọng bằng hình thức lớn và nhỏ. Nó rất quan trọng khi một đại diện của Hoa Kỳ — không phân biệt ở cấp nào – bày tỏ sự tôn trọng (đối tác).
  • Xây dựng niềm tin bằng cách cam kết tham gia với người đối tác trong những nỗ lực đem lại lợi ích chung.
  • Xây dựng mối quan hệ đối tác dựa trên sự tôn trọng, vì chúng là điều cần thiết cho tương lai của Hoa Kỳ và sẽ cho phép chúng ta hồi phục khi những đám mây đen đã bay đi.
  • Tiếp tục giữ mối quan hệ hiện có. Những người cho rằng chỉ có lợi ích là quan trọng, và những mối quan hệ thì không, đã được lịch sử chứng minh là họ đã sai lầm và sẽ được chứng minh là sẽ sai lầm thêm một lần nữa.

Khi Hoa Kỳ tỏ ra tôn trọng và xây dựng niềm tin, chúng ta xây dựng mối quan hệ có lợi cho những lợi ích bền vững của chung. Sau 30 năm ở Châu Á, tôi biết đó là cách duy nhất để làm cho nước Mỹ trở nên vĩ đại hơn nữa.

Gia đình tác giả Ted Osius (trái). Nguồn: Báo Loa Đông/Ngô Phong

Tác giả Ted Osius là Phó Chủ tịch của Đại học Fulbright Việt Nam. Ông từng là đại sứ Mỹ tại Việt Nam từ năm 2014 đến năm 2017. Thành viên sáng lập của GLIFAA, ông là một nhân viên ngoại giao cao cấp của Mỹ tại Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Vatican và Philippines, và làm việc trong những vấn đề của châu Á từ Tòa Bạch Ốc, Liên Hiệp Quốc và Bộ Ngoại giao Mỹ.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Speaking Out. By Ted Osius | The Foreign Service Journal | April 2018 | Respect, Trust And Partnership: Keeping Diplomacy On Course In Troubling Times.

PDF24    Send article as PDF