DCVOnline http://dcvonline.net Thu, 20 Sep 2018 18:24:21 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=4.9.8 Công nhân giúp việc nhà người Việt Nam ở Saudi phải làm việc quá sức, bị áp bức, và bị bỏ đói. http://dcvonline.net/2018/09/19/cong-nhan-giup-viec-nha-nguoi-viet-nam-o-saudi-phai-lam-viec-qua-suc-bi-ap-buc-va-bi-bo-doi/ http://dcvonline.net/2018/09/19/cong-nhan-giup-viec-nha-nguoi-viet-nam-o-saudi-phai-lam-viec-qua-suc-bi-ap-buc-va-bi-bo-doi/#respond Wed, 19 Sep 2018 04:00:25 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1548892 ]]> Yen Duong | Trà Mi dịch

Những người phụ nữ Việt Nam nói rằng họ bị buộc phải làm việc ít nhất 18 giờ một ngày, không được cho ăn, bị hành hạ và không cho trở về Việt Nam.

Phạm Thị Đào, 46 tuổi, cho biết bà phải làm việc hơn 18 giờ một ngày và chỉ được cho ăn một bữa để sống — một lát thịt cừu với cơm trắng. Nguồn: Yen Duong/Al Jazeera.

Hòa Bình, Việt Nam — Phạm Thị Đào sống với cô con gái bảy tuổi tên Hồng Anh trong một căn nhà bỏ hoang ở vùng ngoại ô tỉnh Hòa Bình, phía tây nam Hà Nội.

Bà Đào, 46 tuổi, là một người giúp việc nhà ở Ả Rập Saudi hơn bảy tháng cho đến khi bà trở về Việt Nam vào tháng Tư. Bà Đào thuật lại với Al Jazeera về kinh nghiệm sống ở thành phố cảng Yanbu,

“Tôi làm việc từ 5 giờ sáng đến 1 giờ sáng hôm sau, và được phép ăn một bữa vào lúc 1 giờ chiều. Ngày nào cũng thế — một lát thịt cừu và một đĩa cơm trắng. Sau gần hai tháng sống như thế, tôi như một người điên.”

Theo thống kê của Bộ Lao động CHXHCN Việt Nam, hiện có 20.000 người lao động Việt Nam trong vương quốc Saudi, với gần 7.000 công nhân giúp việc trong nhà (“người ở”) cho các gia đình người Ả rập Saudi.

Năm 2014, hai nước đã ký một hiệp ước lao động 5 năm đã mở đường cho nhiều công dân Việt Nam đi làm việc tại quốc gia vùng Vịnh này.

Saudi Arabia là một trong những nước nhập cảng công nhân giúp việc trong nhà lớn nhất thế giới.

“Chúng tôi đã không đòi hỏi gì nhiều, chỉ muốn không bị bỏ đói, không bị đánh đập, và được ba bữa ăn mỗi ngày. Nếu chúng tôi có điều đó, chúng tôi sẽ không cầu xin được giải thoát.” — Cựu nhân viên giúp việc nhà Phạm Thị Đào

Số công nhân Việt Nam tương đối nhỏ so với người Philippines, Indonesia và Sri Lanka, nhưng cộng đồng người Việt đưa tin họ bị ngược đãi.

Một số người trốn thoát đã kể lại điều kiện sống và làm việc của họ giống như nô lệ. Bà Đào đã lên tiếng trên mạng truyền thông xã hội nói về kinh nghiệm của riêng mình; bà nói

“Tôi hiểu rằng những công nhân [giúp việc nhà] như chúng tôi cần phải quen với những điều kiện làm việc cực nhọc. Chúng tôi đã không đòi hỏi gì nhiều, chỉ muốn không bị bỏ đói, không bị đánh đập, và được ba bữa ăn mỗi ngày. Nếu chúng tôi có điều đó, chúng tôi sẽ không cầu xin được giải thoát.”

Trịnh Thị Linh, một phụ nữ ở phía bắc tỉnh Hà Nam, giúp việc trong nhà cho một gia đình ở Riyadh.

Trước khi làm công việc này, người phụ nữ 30 tuổi chưa bao giờ du lịch ra ngoài Việt Nam và biết rất ít về Ả Rập Saudi. Linh nói với Al Jazeera qua điện thoại,

“Tôi đã được hứa sẽ có mức lương 388 đô la một tháng, và không phải trả bất kỳ phí tổn nào cho tiến trình tuyển dụng. Tôi rất vui mừng. Gia đình chúng tôi khá nghèo, và một tháng lương [của một người giúp việc trong nhà] như thế là nhiều hơn những gì chúng tôi kiếm được sau hai mùa trồng trọt.”

“Tôi thậm chí đã không có được miếng băng vệ sinh và bị buộc phải rửa và bóp chân cho họ. Có lúc bà chủ đã vất thức ăn thùa đi thay vì để cho tôi được ăn.” — Nhân viên giúp việc nhà Trịnh Thị Linh

Linh cho biết cô đã gặp những phụ nữ Việt Nam khác ở Ả Rập Saudi. Người trẻ nhất là 28 tuổi, người lớn tuổi nhất 47. Phần lớn họ là nông dân từ các vùng quê ở Việt Nam, nhiều người thuộc các dân tộc thiểu số.

“Ngay sau khi tôi đến sân bay ở Riyadh, họ (nhân viên của một công ty Saudi cung cấp người giúp việc nhà) đẩy tôi vào một căn phòng với hơn một trăm người khác. Khi chủ nhân đến đón, ông ta lấy sổ thông hành và hợp đồng lao động của tôi. Hầu hết phụ nữ tôi đã nói chuyện ở đây đều có cùng một kinh nghiệm như vậy.”

Giống như Đào, Linh cho biết cô chỉ được cho ăn một bữa ăn một ngày và phải làm việc 18 giờ.

Một người giúp việc nhà, yêu cầu giấu tên, cho Al Jazeera thấy hợp đồng của cô quy định một ngày làm việc chín giờ — một tiêu chuẩn cho các hợp đồng do Bộ Lao động Việt Nam viết.

Đào cho thấy vở học tiếng Ả Rập mà bà đã học trước chuyến đi làm xa nhà. Những công nhân nói, người giúp việc nhà Việt Nam được theo học các lớp học về ngôn ngữ, kỹ năng và văn hóa nhưng các lớp học được tổ chức kém cỏi. Nguồn: Yên Dương/Al Jazeera.

Khi Linh yêu cầu được chuyển đến làm việc với một gia đình khác — quyền của công nhân theo hợp đồng của họ — nhân viên tại công ty môi giới Việt Nam đã hét vào mặt và cố gắng đe dọa cô.

Linh đã tuyệt thực trong ba ngày cho đến khi chủ nhân đồng ý đưa cô trở về lại công ty Saudi.

“Chủ nhân của tôi nói với tôi rằng ông ấy đã trả rất nhiều tiền để đưa tôi về nhà — khoảng $ 6.100 — vì vậy ông ấy muốn tôi ở lại, nhưng tôi không thể sống ở đó được. Sau một tuần, họ đã trả tôi về cho công ty môi giới [Saudi].”

Nhưng người chủ thứ hai của cô còn tệ hơn nhiều.

Vào ngay ngày đầu tiên, một phụ nữ trong gia đình chủ nhân lục lọi trong va li của Linh không cần được phép; bà ấy đã nhốt cô vào một căn phòng và tịch thu sổ thông hành của Linh.

“Bà ấy bỏ tất cả vali của tôi vào một phòng cất đồ và khóa lại; bà ấy không cho tôi dùng điện thoại và không cho tôi tự nấu thức ăn cho mình. Thậm chí tôi không có cả miếng băng vệ sinh và bị buộc phải rửa và bóp chân cho họ. Có lúc bà chủ đã vất thức ăn thùa đi thay vì để cho tôi được ăn.

“Sau ba tháng, tôi đã sụt từ 74kg xuống 53kg. Tôi đã thất vọng, hoảng sợ, thường xuyên bị mất ngủ, và điều duy nhất tôi có thể làm là khóc.”

Bộ Lao động của Saudi đã không trả lời yêu cầu cho một cuộc phỏng vấn của Al Jazeera; yêu cầu đã được gửi hơn một tháng trước thời điểm ấn hành bản tin. Đại sứ quán Saudi tại Hà Nội cho biết họ không thể bình luận.

Nó trở nên rất khó khăn cho những công nhân muốn chứng minh rằng họ đang bị ngược đãi, làm việc quá sức, bị đánh đập hoặc thậm chí bị tấn công tình dục. Việc thi hành pháp luật trước sau gì cũng thiên vị những công ty tuyển dụng Saudi.

Nguyễn Thị Mai Thủy, Điều hợp viên Chương Trình Tam giác Asean Tại Văn Phòng Lao Động Quốc Tế Việt Nam

Nguyễn Thị Mai Thủy, điều hợp viên dự án quốc gia cho chương trình Tam giác ASEAN tại Văn phòng Lao động Quốc tế Việt Nam (ILO), cho biết môi trường làm việc của người giúp việc trong nhà hạn chế sự giao tiếp bên ngoài của họ.

“Chuyện gì đã xảy ra trong [nhà] họ giữ không cho ai biết. Nó trở nên rất khó khăn để cho các công nhân có thể chứng minh rằng họ đang bị ngược đãi, làm việc quá sức, bị đánh đập hoặc thậm chí bị tấn công tình dục.

“Việc thi hành pháp luật trước sau gì cũng thiên vị những công ty tuyển dụng Saudi – những nhà tài trợ — chứ không phải là những người lao động.”

Công nhân giúp việc nhà nhập cảnh vào Saudi Arabia dưới sự bảo trợ, hoặc kafala, một hệ thống cấm họ đổi công việc hoặc rời khỏi đất nước mà không có sự chấp thuận của người bảo lãnh.

UAE, Oman, Kuwait, Qatar và Lebanon cũng gắn liền giấy phép nhập cảnh của người lao động với chủ nhân của họ, khiến họ dễ bị tổn thương và lệ thuộc vào gia đình chủ nhân.

Ở những nước này, những công nhân tìm cách trốn thoát khỏi một chủ nhân lạm dụng đã bị trừng phạt vì tội “bỏ trốn”, bị phạt tù, phạt tiền và trục xuất.

Công nhân giúp việc nhà người Việt Nam thường do một công ty môi giới Việt Nam tuyển dụng. Sau đó những công ty đó chuẩn bị cho những phụ nữ này về mặt ngôn ngữ và nghề nghiệp trước khi gởi họ cho những cơ quan tuyển dụng Saudi.

Công ty Việt Nam chịu trách nhiệm về quyền lợi của công nhân họ đã tuyển dụng. Bà Thủy, điều phối viên của ILO nói,

Hệ thống nhiều tầng này có nghĩa là người lao động dễ bị tổn thương bị ngược đãi ở mỗi đoạn đường.

Không có cách nào dễ dàng thoát ra khỏi vòng thử thách.

Bỏ một hợp đồng lao động ngĩa là sẽ bị phạt khoản tiền phạt lớn, cộng với giá vé trở lại Việt Nam, nếu người lao động không thể chứng minh là họ bị chủ nhân của họ lạm dụng và đàn áp.

Chi phí bỏ hợp đồng thường là từ 2,500 đến 3,500 đô-la

Tuyết nói với bạn tình của mình ở Việt Nam qua điện thoại rằng cô đang bị gia đình cô làm việc ở Riyadh đàn áp . Nguồn: Yen Duong/Al Jazeera’

Bùi Văn Sang, Người tình Tuyết đang làm việc ở Riyadh.

Ông ấy nói Tuyết đang bị đánh đập và bỏ đói. Ông Sang nói,

Công ty môi giới Việt Nam đã yêu cầu ông ta trả 2,155 đô la để cô Tuyết có thể trở về, nhưng từ chối không viết xuống bất cứ điều vào văn bản.

Cô ấy đã bị lấy điện thoại và Sang chỉ có thể liên lạc với Tuyết mỗi hai đến ba tuần một lần, “khi chủ nhân của Tuyết cảm thấy muốn [cho phép cô ấy].” Ông nói thêm,

Khi ông đã có được 2.155 đô-la, công ty môi giới Việt Nam đòi ông trả gấp đôi.

Ông Sang đã vượt cả 1.500km từ Tây Ninh, quê của ông đến thủ đô Hà Nội để cầu xiin với công ty môi giới, nhưng đã bị từ chối. Sang nói,

“Tôi chỉ muốn tuyết trở về. Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng nó lại khó khăn đến thế – cô ấy đã phải xa nhà, xa con cái và họ hàng ở đây. Nếu cân nhắc mức lương – được 388 đô la mỗi tháng và phải làm việc 18 đến 20 giờ mỗi ngày, thì nó còn ít hơn nhiều so với mực lương cô ấy được trả ở đây tại Việt Nam như một giúp việc trong nhà.”

Sang và con gái 12 tuổi của ông ở nhà tại tỉnh Tây Ninh, phía tây nam Việt Nam. ‘Tôi chỉ muốn tuyết trở về. Chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng nó lại khó khăn đến thế – cô ấy đã phải xa nhà, xa con cái và họ hàng ở đây.’ Nguôn: Yen Duong/Al Jazeera.

Không có tổ chức độc lập nào ở Ả Rập Saudi hay Việt Nam x\có thể bảo đảm sự an toàn của công nhân giúp việc trong nhà.

Trong vài năm qua, các báo cáo về sự ngược đãi đã giục chính quyền Saudi có đề nghị sửa đổi các quy định lao động hiện tại, nhưng các nhóm vận động nhân quyền nói rằng họ chưa làm đủ.

Công nhân và người thân của họ phải dựa hoàn toàn vào các công ty môi giới Việt Nam để được hỗ trợ.

Linh, công nhân giúp việc trong nhà ở Riyadh, cho biết khi cô liên lạc với công ty Việt Nam đưa cô sang đây, họ nói với cô rằng hợp đồng lao động chỉ có hiệu lực ở Việt Nam, chứ không có giá trị ở Ả Rập Saudi. Linh nói qua điện thoại,

“Họ [các công ty Việt Nam] có trách nhiệm phải bảo vệ quyền lợi của chúng tôi, nhưng tất cả những gì họ làm là hét vào mặt chúng tôi. Bây giờ tôi chỉ muốn rời khỏi đất nước này. Nếu tôi đi đến bót cảnh sát, ít nhất họ sẽ đưa tôi đến trung tâm giam giữ, và tôi sẽ bị trục xuất và được phép rời khỏi đây.”

Gần đây, cô đã phát hình lên mạng một video mô tả chi tiết về cách đối xử mà cô và nhiều người Việt Nam giúp việc trong nhà phải chịu đựng trong khi làm việc tại Saudi Arabia.

Đoạn Video đó đã được xem 113.000 lần.

“Nhiều phụ nữ tôi biết ở đây chỉ muốn điều tương tự — họ chỉ muốn ra đi. Nhưng họ sợ, họ bị đe dọa, và thậm chí họ không dám nói ra.”

Sang, 53 tuổi, cho thấy một bức thư ông viết cho Tòa Đại sứ Saudi tại Việt Nam và Tòa Đại sứ Việt Nam tại Ả Rập Saudi, nêu rõ chi tiết hoàn cảnh gia đình. Nguồn: Yên Dương/Al Jazeera News

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Overworked, abused, hungry: Vietnamese domestic workers in Saudi by Yen Duong | Việt Nam, Septemebr 19, 2018. Về tác giả: Yên Dương là một nhiếp ảnh và người viết độc lập ở Việt Nam

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/19/cong-nhan-giup-viec-nha-nguoi-viet-nam-o-saudi-phai-lam-viec-qua-suc-bi-ap-buc-va-bi-bo-doi/feed/ 0
Trung Quốc: Thuế nhập cảng của Trump chỉ là cái đánh khẽ http://dcvonline.net/2018/09/18/trung-quoc-thue-nhap-cang-cua-trump-chi-la-cai-danh-khe/ http://dcvonline.net/2018/09/18/trung-quoc-thue-nhap-cang-cua-trump-chi-la-cai-danh-khe/#respond Tue, 18 Sep 2018 14:17:10 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1547299 ]]> David A. Andelman | Trà Mi

Trung Quốc đã sẵn sàng thắng bất kỳ cuộc chiến tranh thuế nhập cảng nào mà Donald Trump có thể tung ra bằng một số mẹo khá đơn giản mà tất cả có thể được nhóm lại trong một tiêu đề: Chủ nghĩa Tư bản Chuyên quyền.

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump phát biểu nhân tháng vinh danh Di sản Tây Ban Nha tại Tòa Bạch Ốc; cùng ngày, ông tuyên bố đánh thêm thuế nhập cảng và hàng hóa Trung Quốc, ngày 17 tháng 9 năm 2018. Nguồn: REUTERS / Brian Snyder

Sau khi thị trường Mỹ đóng cửa hôm thứ Hai, Trump tuyên bố ông sẽ đánh 10% thuế nhập cảng vào hàng hóa Trung Quốc báng sang Hoa Kỳ trị giá 200 tỷ đô la – chỉ bằng một nửa mức dự tính trước đây, nhưng vẫn cùng mục đích thúc đẩy Bắc Kinh ngồi xuống đàm phán song phương. Như một cách khuyến khích thêm để Trung Quốc sớm chịu đàm phán, ông đã cho biết con số này (10%) sẽ tăng thành 25% vào cuối năm nay, sau mùa mua bán nhân dịp nghỉ lễ ở Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản chuyên quyền mà Trung Quốc đã áp dụng một cách hiệu quả sẽ khiến Trump khó có thể gây được những thiệt hại kinh tế có thể biến thành bất kỳ loại chiến thắng nào cho Tòa Bạch Ốc.

Có những phần tử chính của kế hoạch này đã không được biết đến hay được sự Washington chú ý đến, nhưng chúng sẽ khiến người ta sẽ có những lúc phải vỗ trán kêu “à há”. Một người đến nói chuyện với tôi khi tôi đang xem một số đồ dùng mới cho nhà bếp, “Tôi đoán chúng ta nên mua bếp hiệu Haier này trước khi thuế nhập cảng đánh vào hàng Trung Quốc bắt đầu.” Tôi nói lại với nhân viên bán hàng ở đó. Ông ta mỉm cười nói, “Không đâu, đừng lo. Haier bảo đảm với chúng tôi rằng họ sẽ không tăng giá.”

Người bán hàng có thể đã chỉ lặp lại hy vọng của tiệm của anh ta về vấn đề thuế nhập cảng đánh vào hàng hóa Trung Quốc. Nhưng ngày hôm sau người bạn cùng học đại học với tôi, David Bostwick, một người đầu tư mạo hiểm ở Silicon Valley và cũng là giám đốc tài chính của Crystal Solar, đã cho biết Trung Quốc đã nắm chặt thị trường bảng thu năng lượng mặt trời ở Mỹ. Nó làm giảm giá mặt hàng này, và bóp nghẹt ngành kỹ nghệ sản xuất bảng thu năng lượng mặt trời ở đây. Bostwick nói, “Trung Quốc chỉ cần giảm 20% giá hàng của họ và vẫn có thể tiếp tục bán sản phẩm của họ ở Mỹ.”

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, ngày 25 tháng 10 năm 2017. Nguồn: REUTERS / Jason Lee

Một số thay đổi này thậm chí có thể làm cho các công ty Trung Quốc trở nên hiệu quả hơn và, về lâu về dài, còn cạnh tranh hơn nữa. Đồng thời, những công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến họ không thể hoặc không muốn giảm 10% giá bán thì họ có thể có lựa chọn khác, khá sáng tạo, ở trong và ngoài nước. Từ nhiều năm qua, Trung Quốc đã hết sức cố gắng để không phụ thuộc vào mức xuất cảng để phát triển kinh tế. Và kế hoạch đó đã thành công. Xuất cảng theo tỷ lệ của GDP của Trung Quốc đã giảm hàng năm trong mười năm qua, trừ năm 2009 khi đang ở vũng suy thoái kinh tế toàn cầu. Toàn bộ khu vực xuất cảng của Trung Quốc chỉ chiếm 18,5% GDP của Trung Quốc trong năm 2017, giảm xuống từ 35% trong năm 2007. Đồng thời, xuất cảng của Trung Quốc sang Mỹ chỉ chiếm 18% tổng trị giá hàng xuất cảng năm ngoái.

Tất nhiên, vai trò ngày càng tăng của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình cũng có thể dùng để chống lại ảnh hưởng của thuế nhập cảng, vì Bắc Kinh có thể điều chỉnh mức lợi nhuận tùy theo ý muốn và vẫn giữ được việc làm cho một lực lượng công nhân rất lớn; đồng thời Bắc Kinh có thể hạ giá đồng mhân dân tệ đến 10%. Ảnh hưởng giá của đồng đô la tăng lên so với đồng tiền Trung Quốc có thể trung hòa hầu hết các hiệu ứng của cuộc tấn công bằng thuế nhập cảng mới của Trump.

Ngoài ra, nhiều công ty tư nhân của Trung Quốc có thể được lợi vì số xuất cảng sang Mỹ sút giảm bằng cách tăng cường tiếp thị và bán hàng trong vùng Đông Nam Á – nơi đang trưởng kinh tế mạnh mẽ và OECD dự đoán “nhu cầu nội địa đàn hồi” trong những năm tới – và xa hơn nữa đến châu Phi, nơi Trung Quốc đã hoạt động rất tích cực và ở cả châu Mỹ Latinh.

Một số công ty Trung Quốc thậm chí có thể di chuyển cơ sở sản xuất ra nước ngoài. Ví dụ, công ty Haier đã có xưởng sản xuất tại năm tiểu bang của Mỹ kể từ khi mua lại doanh nghiệp dụng cụ điện của General Electric. Haier cũng có cơ sở sản xuất từ Mexico đến New Zealand sau khi mua lại công ty dụng cụ điện nhà bếp Fisher & Paykel vì hãng này cũng sản xuất tại Mexico, Ý và Thái Lan. Hơn nữa, như Charles Freeman, phó chủ tịch cao cấp của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại châu Á, đã cho tôi biết trong một cuộc phỏng vấn hôm thứ Sáu,

“Mexico từng là một nơi giá sản xuất cao hơn. Nhưng bây giờ giá lao động ở Trung Quốc đã đắt hơn giá lao động ở Mexico, vì vậy những việc này có thể bắt đầu thay đổi.”

Bắc Kinh còn có những biện pháp khác có thể dùng để che đỡ cho các công ty Trung Quốc, và nền kinh tế nói chung của họ, không bị ảnh hưởng vì thuế nhập cảng của Hoa Kỳ ở mọi cấp độ. Freeman nói, nhiều công ty không muốn cắt giảm giá hoặc thay đổi nơi sản xuất,

“có nhiều khả năng sẽ đến Bắc Kinh và [nói với chính phủ] hãy giảm giá đồng nhân dân tệ để bù lại. Điều đó tất nhiên đưa đến những vấn đề lớn [ở Hoa Kỳ] về ,ặt chính sách, vốn đã nhạy cảm với sự hạ giá của đồng nhân dân tệ.”

Tuy nhiên, đến lúc đó, đang ở giữa một cuộc chiến thương mại toàn diện, Bắc Kinh sẽ chú ý vào độ linh động của Mỹ đến mức nào?

Lợi ích cuối cùng, và vẫn bất ngờ, có thể là về lâu về dài. Siva Yam, chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ – Trung Quốc ở Chicago, nói với tôi,

“Những mức thuế nhập cảng này có thể giúp các công ty Trung Quốc và nền kinh tế của họ hữu lý hóa và trở nên cạnh tranh và sinh lợi hơn nữa.”

Trong ngắn hạn, đây là đúng là một đề xuất từ thua đến lỗ cho Tòa Bạch Ốc.

Trong cuộc chiến thương mại này, Trung Quốc có thể bị một chút thiệt hại. Nhưng nhiều người trong giới lãnh đạo Trung Quốc, hy vọng Trump sẽ thất cử tổng thống vào năm 2020, hoặc đảng Dân chủ thăng lớn trong kỳ bầu cử bán phần vào tháng 11 này, họ tính toán có thể chịu đựng được cho đến khi chính quyền kế nhiệm bỏ thuế nhập cảng, cho phép tình hình trở lại thực tế của một thị trường tự do bình thường.

Tất nhiên, họ Tập không cần phải thắng cử. Ông ta đang là chủ tịch Trung Quốc cả đời, hoàn toàn kiểm soát cả hệ thống chủ nghĩa tư bản chuyên quyền của ông ấy.

Về tác giả | David A. Andelman, cựu phóng viên nước ngoài của tờ New York Times và CBS News, đang là học giả được mời của Trung tâm An ninh Quốc gia tại Trường Luật Fordham và là tác giả của visiting “Một hòa bình tan vỡ: Versailles 1919 và Giá chúng ta phải trả hôm nay”. @DavidAndelman

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Trump tariffs only a weak blow to China. David A. Andelman | Reuters | September 17, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/18/trung-quoc-thue-nhap-cang-cua-trump-chi-la-cai-danh-khe/feed/ 0
Kỳ quan tinh thần trong thời đại hậu toàn trị http://dcvonline.net/2018/09/17/ky-quan-tinh-than-trong-thoi-dai-hau-toan-tri/ http://dcvonline.net/2018/09/17/ky-quan-tinh-than-trong-thoi-dai-hau-toan-tri/#respond Mon, 17 Sep 2018 04:00:03 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1545889 ]]> Lưu Hiểu Ba | Hồ Như Ý dịch

Sau khi tiếng cười kết thúc thì mọi việc lại như cũ. Cái cần nói dối thì cứ nói dối, cần phải mặt dày tim đen thì cứ mặt dày tim đen, cần lợi nhuận về phần mình thì chính là bất chấp thủ đoạn…

Bất bình đẳng kinh tế ảnh hưởng đến tâm lý. Nguồn: shutterstock.com

Đặc trưng lớn nhất trong thời đại hậu toàn trị là một mặt, kẻ cầm quyền vẫn liều mạng cố níu giữ chế độ độc tài trong cơn khủng hoảng về tính chính danh của chế độ, trong khi đó hiệu lực thực thi quyền lực đang ngày một đi xuống; một mặt khác, người dân không còn chấp nhận chế độ độc tài, một xã hội dân sự tự mình lớn mạnh đang dần hình thành, mặc dù vẫn còn chưa đủ sức mạnh để thay đổi chế độ hiện hành, nhưng xã hội đang ngày càng đa nguyên hóa về mặt kinh tế và các giá trị xã hội, đang dùng phương thức nước chảy xuyên qua đá núi để không ngừng gặm nhấm mài mòn thể chế chính trị nhất nguyên hóa cứng nhắc.

Cụ thể trên phương diện tinh thần, một Trung Quốc ở thời đại hậu toàn trị bước vào thời đại “Khuyển nho hóa”, không có tín ngưỡng, lời nói và hành động bất nhất, trái ngược nhau. Người ta (gồm quan chức cấp cao và đảng viên) đều không còn tin tưởng vào giọng điệu mà phía chính quyền đưa ra, dùng sự phục tùng đối với lợi ích để thay thế cho sự trung thành về lý tưởng; ở chốn riêng tư thì chửi rủa, nói xấu, chế giễu những lãnh đạo cấp cao và đường lối “vĩ đại, quang vinh, đúng đắn” của đảng đã trở thành “chuyên án giải trí phục vụ sau bữa cơm” thường ngày trong xã hội. Nhưng ở không gian công cộng, với sự dụ hoặc cũng như đe dọa từ lợi ích cá nhân thiết thân nên vẫn để cho tuyệt đại đa số người dân dùng những từ ngữ được viết trên “Nhân dân nhật báo” để ca tụng công đức; hơn nữa khi những từ ngữ ca tụng này được thoát ra khỏi cổ họng, lại lưu loát thông thuận như những câu nói chửi rủa ở chốn riêng tư, cơ hồ như đã trở thành phản ứng mang tính quán tính của người dân Trung Quốc.

Phân liệt nhân cách của tầng lớp trí thức tinh anh bên trong chế độ

Trên thân mình của những thanh niên trung niên trí thức tinh anh đang có tiền đồ bên trong thể chế, đang thể hiện ra một loại “hiện tượng cán bộ công tác bí mật”; ở những nơi công cộng chốn đông người hay chính quy thì họ sẽ kiên quyết không bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để leo cao chui sâu cho sự nghiệp của mình; nhưng ở những chốn riêng tư như trong bữa ăn thì lại dùng một loạt những từ ngữ khác hẳn. Bọn họ sẽ nói:

“Tuy rằng tôi thân là quan chức trong thể chế, anh ở bên ngoài, kỳ thực trong nội tâm chúng ta lại có cách nghĩ giống nhau, chỉ bất quá là phương thức thể hiện khác nhau mà thôi, anh ở bên ngoài hô hào kêu gọi, tôi ở bên trong phân giải hệ thống…”

Bọn họ sẽ nói cho bạn một số thứ gọi là tin tức nội bộ và phân tích về tình hình chính trị trước mắt, giới thiệu cho bạn một số đặc điểm của từng nhân vật thuộc tầng lớp lãnh đạo tối cao, xem xem ai có hy vọng trở thành một Tưởng Kinh Quốc của Trung Quốc Đại Lục nhất; thậm chí họ có thể nói ra những lời mà bạn có thể phải xuýt xoa kinh ngạc về sách lược diễn biến hòa bình, v.v.. Họ cho rằng, động lực lớn nhất thúc đẩy diễn biến hòa bình thành công, đến từ phe cải cách tiến bộ đến từ bên trong thể chế “thân trong doanh quân Tào nhưng tâm trí hướng về Hán” như bọn họ, hơn nữa chức quan càng lớn, thì sự ngụy trang càng giống, tiềm lực chính trị càng lớn, trong tương lai xác suất nội ứng ngoại hợp cùng nhau tấn công tan rã thể chế càng cao. Ngôn từ mà họ đạt được sự nhất trí cao đó là bên trong thể chế có rất rất nhiều người có ý tưởng tốt, việc mà những người này thực hiện thì luôn luôn có giá trị cao hơn rất nhiều so với những lực lượng thuộc phe đối lập bên ngoài thể chế đã làm để thúc đẩy cải cách chính trị. Mỗi lần nói chuyện với những người này, đều có cảm giác rằng bọn họ mỗi người đều có hoài bão to lớn như Gorbachev, nhẫn nhục chịu đựng, gánh vác trách nhiệm to lớn và có trí tuệ chính trị để làm điều đó. Có thể là hồi nhỏ xem những tác phẩm điện ảnh cách mạng quá nhiều, trúng độc quá nặng, bởi vậy tôi thường tưởng tượng họ là những cán bộ cách mạng nằm vùng đầy trí tuệ và bản lĩnh được tung vào hậu phương quân địch.

Hiện tượng này không chỉ giới hạn là những quan chức chính phủ, mà trong giới báo chí truyền thông, giáo dục, văn hóa, giới làm kinh tế cũng đều như thế. Sau sự kiện Lục Tứ 1989, bọn họ bước ra biển lớn làm kinh tế; những người quen nào trở nên giàu có, đều sẽ cách một khoảng thời gian lại mời bạn đến chơi và chiêu đã một bữa cơm thịnh soạn; mỗi một lần ăn cơm thì đều sẽ lại bàn tán náo nhiệt về mọi việc lớn nhỏ trong thiên hạ hơn nữa lại rất thẳng thắn phát ra lời nói: Bước ra biển lớn đi làm kinh tế kiếm tiền quyết không phải là làm giàu cho bản thân, mà để dành sau này dùng để làm việc lớn. Họ đưa ra một loạt những ý nghĩa xã hội của hành động bước ra đời làm kinh tế:

  1. Trực tiếp tham gia quá trình thị trường hóa và tư nhân hóa, cung cấp chỗ dựa cơ bản nhất về chế độ kinh tế cho quá trình dân chủ hóa chính trị trong tương lai.
  2. Cung cấp trợ giúp kinh tế cho những người bạn khó khăn gặp nạn, tích lũy và cung cấp tài nguyên kinh tế cho phe đối lập để họ có cơ hội quay trở lại chính trường trong tương lai. Có một câu nói mà họ thích nói nhất là: Làm cách mạng không có tiền thì không được, vì thành công trong tương lai; vậy thì ngay từ bây giờ càng cần phải kiếm thật nhiều tiền, đánh xuống căn cơ vững chắc về kinh tế.
  3. Càng quan trọng hơn là, bọn họ cho rằng những người có tiền khi làm cách mạng, thì sẽ khẳng định là cuộc cách mạng ít phải trả giá nhất, bởi vì thương trường đã dạy cho họ biết cách tính toán kỹ càng chi phí và lợi ích thu được, tuyệt đối sẽ không làm ra loại cách mạng có chi phí giá thành đắt đỏ mà lợi ích thu được quá nhỏ bé. Xác suất sự tham gia chính trị của những người có tiền, cổ động cách mạng bạo lực là nhỏ nhất, khả năng thúc đẩy cải cách và diễn biến hòa bình là lớn nhất.

Bởi vậy, đối với “Thuyết ba đại diện” và “Chủ nghĩa tam dân mới” thì họ vừa không có cái nhìn tốt cũng không thù ghét nó. Lý do là những lý luận này đều tốt hơn so với cách mạng kiểu Mao Trạch Đông; chúng cũng tốt hơn so với bốn nguyên tắc cơ bản của Đặng Tiểu Bình; thậm chí còn có người cho rằng chúng là bước đầu tiên thể hiện chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cất bước đầu tiên trong quá trình chuyển biến từ thái độ thù địch đối với nhân tính chuyển sang nhân tính hóa; nó giống như việc dùng văn hóa đại chúng mềm dẻo vô hại để bao bọc và đánh bóng cho mớ lý luận chính thống của chính quyền, dù sao cũng tốt hơn so với việc dùng mỗi khẩu hiệu hô hào như bóng kiếm ánh đao.

Sự thẩm thấu ăn mòn tầng lớp thanh niên trên quy mô lớn

Điều đáng buồn nhất là, lối sống khuyển nho hóa như thế này đang phổ biến ăn mòn tầng lớp thanh niên hiện đại.

Cuộc thanh trừng trên quy mô lớn sau phong trào dân chủ 4 tháng 6 năm 1989 đã làm nhiều người bị khai trừ khỏi đảng; cũng có càng nhiều người chủ động ra khỏi đảng; số người muốn gia nhập đảng không ngừng giảm theo từng năm. Tuy nhiên, trải qua hơn 10 năm cưỡng ép quên đi quá khứ và tích cực mua chuộc bằng lợi ích, con số thanh niên yêu cầu gia nhập đảng ngày càng tăng qua các năm. Chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc vì để cho tầng lớp thanh niên thấy được sức hút của mình đối với tầng lớp thanh niên, vào dịp kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc 1 tháng 7 mấy năm gần đây, những hoạt động tuyên truyền tạo khí thế của chính quyền nhấn mạnh số lượng thanh niên tích cực yêu cầu gia nhập đảng đang tăng cao theo các năm, đặc biệt là nhấn mạnh số lượng người gia nhập đảng từ sinh viên các trường đại học tăng nhanh. Trích dẫn từ Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV cho biết, Trong số toàn bộ sinh viên đang theo học tại các trường đại học, tỷ lệ sinh viên có yêu cầu gia nhập đảng cao tới 60%. Tài liệu này vừa vặn lại phù hợp với kết quả điều tra khác mà truyền thông công bố: Tỉ lệ thanh niên có tình cảm tích cực đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc cao tới 65%. Còn về lý do để gia nhập đảng và yêu mến, bảo vệ Đảng Cộng sản Trung Quốc, thì những tài liệu trên cũng cho thấy trọng điểm đã chuyển từ chủ nghĩa lý tưởng sang chủ nghĩa thực tế. Họ vừa không nhắc tới tôn chỉ của Chủ nghĩa cộng sản, cũng không nhắc đến những lý tưởng cao xa của Chủ nghĩa cộng sản, càng đừng mong nhìn thấy tinh thần đấu tranh của đảng; ngược lại họ đi vòng một quãng rất xa, lại nhấn mạnh nói tới thành tích vĩ đại phong phú mà đảng đã làm, từ câu nói “Nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu đứng dậy từ đây” của Mao Trạch Đông cho đến “Nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu giàu có” của Đặng Tiểu Bình, cuối cùng hạ cánh ở “Thuyết ba đại diện” và “Chủ nghĩa tam dân mới”. Cách tuyên truyền như vậy, mục đích là để nói cho người dân biết Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khi bắt đầu cải cách mở cửa tới nay, tạo nên thành tích cầm quyền hết sức chói mắt với sức mạnh quốc gia được tăng cường, sức ảnh hưởng của quốc gia được nâng lên và đời sống người dân giàu có no đủ. Bởi vậy nó càng ngày càng có sức hấp dẫn đối với tầng lớp thanh niên học sinh sinh viên.

Người xem có thể hoài nghi những con số mà phía chính quyền công bố, nhưng chỉ cần có sự hiểu biết đối với tầng lớp thanh niên trí thức hiện tại, thì cũng không còn bao nhiêu nghi ngờ nữa. Đối với tầng lớp thanh niên trí thức trẻ tuổi sau thời đại Lục Tứ 1989 được đắm chìm trong mỹ cảnh của xã hội Tiểu khang ấm no và chủ nghĩa thực dụng, thì sự vật được quan tâm chú ý nhiều nhất đều không có quan hệ gì với những tư tưởng sâu sắc, bản tính con người cao quý, nền chính trị trong sạch, sự quan tâm tới nhân văn, trải nghiệm những giá trị sống’ Họ lựa chọn có một thái độ của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội đối với cuộc sống. Mục đích của nhân sinh chủ yếu tập trung vào làm quan to, làm giàu phát tài hay xuất ngoại sang nước khác; khẩu vị cuộc sống là truy cầu sự thời thượng, tiêu dùng xa xỉ và học đòi theo các ngôi sao giải trí đang lên, đắm chìm vào những trò chơi trên mạng internet và những cuộc tình một đêm. Bởi vì, trước khi tầng lớp thanh niên chưa có được một cuộc sống độc lập, môi trường gia đình và lớn hơn là cả xã hội Trung Quốc đã đem họ ngâm chìm trong ý thức về đặc quyền và tiêm nhiễm tiềm thức con buôn tất cả mọi việc không có lợi cho mình thì không làm.

Nhìn từ hoàn cảnh môi trường xã hội, công cuộc nhồi nhét ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cắt đứt lịch sử, tạo nên một lớp lại một lớp người mất đi kí ức lịch sử. Mặc dù kể từ khi Đảng Cộng sản Trung Quốc lên nắm quyền tới nay, người dân Trung Quốc Đại Lục đã trải qua vô số những kiếp nạn khó có thể tưởng tượng được; nhưng lớp người sau “Lục Tứ” 1989 về cơ bản là không hề có chút ấn tượng ký ức khắc cốt ghi tâm nào đối với những kiếp nạn đó, không có được trải nghiệm đối với sự đàn áp của chế độ và cảnh sát nhà nước; ngược lại họ chỉ có những kinh nghiệm thiết thân đối với những định luật như “tất cả nhìn về phía đồng tiền” và “có quyền thì sẽ có tiền”; với sự tiêm nhiễm lan tràn của chân lý “không từ thủ đoạn” thì trong mắt của họ những người thành công là những thổ hào làm giàu nhanh chóng chỉ sau một đêm cũng như những ngôi sao giải trí trên các lĩnh vực. Bởi vậy, bọn họ đối với hành động kể về những khổ nạn trong lịch sử và hiện thực xã hội đen tối luôn là thái độ rất không kiên nhân, cho rằng việc luôn nói về phong trào phản phái hữu này, phong trào Đại Nhảy Vọt này, phong trào dân chủ 1989 và sự kiện Thiên An Môn này, luôn là phê bình chính phủ, luôn chỉ ra những mặt đen tối của xã hội thì hoàn toàn không cần thiết. Bọn họ sẽ dùng cuộc sống giàu sang no đủ của bản thân và những tư liệu mà phía chính quyền cung cấp để chứng minh cho sự tiến bộ lớn mạnh vượt bậc của Trung Quốc.

Đối ngoại là anh hùng, đối nội hèn nhát, hoàn toàn không có khuyết điểm đạo đức

Nhìn từ môi trường gia đình, hiện nay tuyệt đại đa số thanh niên đều là con một trong gia đình, do vậy là hạt nhân trong một gia đình, còn gọi là “tiểu hoàng đế”. Ngay từ khi mới ra đời thì họ đã được hưởng thụ một cuộc sống hoàn toàn không có lo lắng gì về ăn mặc, không có được kinh nghiệm cuộc sống mà tầng lớp cha ông và giai cấp lót đáy trong xã hội đã và đang trải qua; họ được nuôi dưỡng trưởng thành với ý thức “bản thân là trung tâm” của tất cả mọi thứ, do đó thiếu khuyết đi sự quan tâm đối với những người xung quanh. Hơn nữa, một khi những thanh niên này thi đậu đại học, càng là trở thành sủng nhi của gia đình và là niềm kiêu ngạo của xã hội. Bởi vậy, bọn họ được môi trường gia đình nuôi dưỡng để trở thành những kẻ theo chủ nghĩa cá nhân với bản thân là trung tâm tuyệt đối, bị xã hội dẫn dắt để trở thành những kẻ theo đuổi cuộc sống giàu sang phú quý và hưởng thụ lối sống tiêu thụ xa xỉ. Tuyệt đại đa số những đứa trẻ từ nông thôn kia sau khi trở thành trạng nguyên sau con đường thi cử, thứ mà chúng quan tâm hoàn toàn không phải là làm thế nào để giúp đỡ những người nông dân thay đổi vận mệnh bị kỳ thị hay thoát khỏi đói nghèo, mà là quan tâm làm thế nào để sau khi tốt nghiệp đại học có thể biến mình trở thành những người thành phố thành công, người trên người, làm thế nào để triệt để thoát khỏi vận mệnh đời đời kiếp kiếp làm nghề nông. Trong thực tế lối suy nghĩ như trên của những sinh viên xuất thân từ nông thôn là điều hiển nhiên.

Những năm gần đây, tâm lý cuồng bạo chủ nghĩa dân tộc trong xã hội Trung Quốc Đại Lục thậm chí còn mạnh hơn nhiều so với phía chính quyền, sự kích thích tình cảm xã hội lớn nhất đối với tầng lớp thanh niên chính là chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt là tâm lý chống Mỹ chống Nhật chống Đài Loan độc lập đã trở thành lĩnh vực chủ yếu và là đột phá khẩu của thù hận dân tộc để tầng lớp thanh niên Trung Quốc Đại Lục bày tỏ sự quan tâm đối với quốc gia: “sự kiện va chạm máy bay” giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, “sự kiện người Nhật Bản mua dâm tập thể ở Chu Hải”, cái gọi là sự kiện du học sinh Nhật Bản ở Đại học Tây Bắc “sỉ nhục Trung Hoa”, sự kiện Thủ tướng Nhật Bản Koizumi thăm viếng đền Zasukuni, sự kiện một người Trung Quốc tên là Triệu Yến bị cảnh sát đánh ở Hoa Kỳ, trận quyết đấu giữa hai đội tuyển bóng đá Nhật – Trung ở Cup Châu Á… đều đưa tới sự kích động tinh thần và phóng đại sự việc của tầng lớp thanh niên Trung Quốc Đại Lục. Ngôn ngữ hành vi trên mạng internet trong lĩnh vực chủ nghĩa dân tộc càng ngày càng bạo lực hóa, lưu manh hóa, được biểu hiện ở hành động tiếng hô hào chém giết nổi lên khắp nơi, những tiếng chửi rủa điên cuồng hay hiến thân vì tổ quốc lan tràn trên mạng internet. Tuy vậy, tấm lòng yêu nước dù có mạnh mẽ đến đâu cũng không hề trở ngại phương thức sinh tồn của chủ nghĩa cơ hội; không cần nói là sự im lặng một cách phổ biến đối với những hành vi mang tính bạo lực của chính phủ, hơn nữa còn tránh xa những hành vi mang tính bạo lực đối với xã hội. Sự chai lỳ đối với trái tim đồng cảm và thiếu hụt cảm xúc về chính nghĩa đã trở thành một thứ bệnh phổ biến trong xã hội; người già bị bạo bệnh ngã xuống trên phố không có ai quan tâm; một cô bé hụt chân ngã xuống nước không có ai cứu; đám thổ phỉ cướp bóc trên đường lộ tiến hành đáng người và hiếp dâm giữa đám đông, cả một xe toàn thanh niên trai tráng lại không có ai đứng ra cứu giúp; một kẻ lưu manh cóc ké áp tải hai cô gái tiến hành thị chúng trên phố những mấy trăm mét, tất cả mọi người vây quanh xem náo nhiệt nhưng không ai ra tay giúp đỡ… Những tin tức xã hội làm cho người ta không khỏi rùng mình như vậy, thường có thể thỉnh thoảng lại xuất hiện trên truyền thông Đại Lục, ngay cả Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc cũng có chuyên mục đôi lúc đưa tin.

Đây chính là chủ nghĩa dân tộc của tầng lớp thanh niên Trung Quốc Đại Lục; khi đối ngoại thì mở mồm hô to chủ nghĩa anh hùng còn khi đối nội thì thực hành chủ nghĩa nhược phu hèn yếu. Năm xưa khi tổng thống Hoa Kỳ Clinton có bài diễn thuyết ở Đại học Bắc Kinh, có một nữ sinh viên với diễn ngôn đặc biệt yêu nước và có câu hỏi không hề hữu hảo chút nào, nay đã trở thành vợ một người Mỹ. Đối với những câu chuyện giàu tính chất hài kịch như vậy, tự nhiên trở thành tin tức được bàn tán náo nhiệt một thời gian. Càng đáng buồn hơn đó là, đối diện với loại đấu tranh giữa ngôn từ và hành động như vậy, bọn họ ngay cả một chút xíu gợn sóng tâm lý hay tự vấn bản thân cũng không có, rất tự nhiên cất tiếng chửi, cũng rất tự nhiên đi sang Hoa Kỳ du học. Khi họ chửi nước Mỹ, thật sự là giận dữ hiếu chiến như diều hâu; khi ngồi máy bay sang Boston để du học, càng là có sự cuồng nhiệt vui mừng xuất phát từ nội tâm.

Mấy ngày trước, tôi có nhìn thấy những bình luận trên mạng của một cư dân mạng nổi tiếng có tên là “Leonphoenix” với mở đầu là:

“Tôi thích sản phẩm hàng hóa do nước Mỹ làm ra. Thích các bộ phim Mỹ. Thích sự tự do của nước Mỹ. Hâm mộ sự giàu có và lớn mạnh của Mỹ, nhưng càng nhiều hơn thời gian tôi vẫn cùng với rất nhiều người cùng nhau hét to: ‘Đả đảo đế quốc Mỹ!’ bởi vì đây là phản ứng mang tính bản năng và tất yếu của một quần thể nhỏ bé nhược tiểu.”

Cư dân mạng này đã che dấu đi danh tính để nói lên bản chất thật sự của cái gọi là “Chủ nghĩa yêu nước” do đám người bị khuyển nho hóa tạo nên.

Không trách được khi mà một số giáo sư đại học có tư tưởng hướng về chủ nghĩa tự do đã cảm thán nói: Cả một thập niên 1990, sự nhồi nhét ý thức hệ từ phía chính quyền, đã cho thấy được hiệu quả và lợi ích lớn nhất trên thân của những sinh viên đại học.

Giống như vậy, tầng lớp thanh niên cũng dùng thái độ của khuyển nho để nhìn nhận vấn đề gia nhập đảng. Gần đây số lượng sinh viên đại học có nhu cầu vào đảng đang không ngừng tăng lên, nhưng số lượng người thật sự tôn thờ chủ nghĩa cộng sản lại ít như lông Phượng, như vảy Kỳ Lân; cũng giống như số lượng những thanh niên dám nói chữ “Không” đối với sự dã man của thể chế và hành vi bạo lực ở xung quanh bản thân cũng ít như lông Phượng, như vảy Kỳ Lân vậy. Tôi không biết được nữ sinh viên Đại học Bắc Kinh làm cô dâu nước Mỹ kia có phải là đảng viên hay không; nếu như không phải, hành vi của cô ấy còn chưa đủ để cấu thành nên phương thức sinh tồn điển hình của thanh niên Trung Quốc Đại Lục; nếu là đảng viên, thì những biểu hiện của cô ấy trong thời gian học tại trường và sự lựa chọn của cô sau khi tốt nghiệp, chính là ví dụ điển hình cho thấy được hình thức sinh tồn của tầng lớp thanh niên Trung Quốc Đại Lục: Sự lan tràn một cách biến thái của “con người lý tính về kinh tế”, đó là ước muốn truy cầu cách tối đa hóa lợi ích cá nhân trở thành hạt nhân của phương thức sinh tồn. Nói một cách dễ nghe đó là sự thức tỉnh của ý thức lợi ích cá nhân; nói khó nghe một chút đó là hạng người lúc nào trong tư duy cũng chỉ có lợi ích cá nhân, đối với những thứ ngoài lợi ích cá nhân thì hoàn toàn vứt bỏ. Bọn họ muốn bức thiết nhanh chóng gia nhập đảng không phải vì tin tưởng Chủ nghĩa cộng sản, bọn họ sung mãn tinh thần chủ nghĩa yêu nước chống đế quốc Mỹ nhưng lại đắm chìm trong những thứ thời thượng do Mỹ dẫn đầu ở các lĩnh vực… Và thứ kỳ quặc nhất đó là, bọn họ cho rằng những thứ bọn họ làm như vậy hoàn toàn không có một chút lo lắng xung đột mâu thuẫn nào cả, lại càng không hề có gánh nặng về đạo đức nào cả, ngược lại còn cảm thấy tự hào vì bản thân mình, chỉ cần thu được lợi ích, thì đều cảm thấy rằng mỗi lần lựa chọn của bản thân đều là anh minh sáng suốt.

Trong số những sinh viên đại học không cam chịu tụt lại phía sau, tích cực tranh giành lấy một suất gia nhập đảng, thì đại da số họ quyết không phải là tin tưởng vào Chủ nghĩa lý tưởng, ngược lại đều có nền tảng là hoài bão cá nhân. Bởi vì ở Trung Quốc Đại Lục nơi mà Đảng Cộng sản Trung Quốc lên cầm quyền, bất luận sau khi bạn tốt nghiệp làm nghề gì, nếu muốn nhanh chóng thành công, gia nhập đảng luôn tốt hơn không gia nhập đảng.

Mấy năm gần đây, một loạt nhiều cuộc điều tra đối với các sinh viên tốt nghiệp đã cho thấy muốn gia nhập đảng để trở thành viên chức nhà nước làm cho các cơ quan nha môn chính phủ đã trở thành lựa chọn hàng đầu của sinh viên đại học. Khi họ nói về động cơ muốn gia nhập đảng, hoàn toàn đều không có bất cứ câu cú văn phong rập khuôn mô tả nào về đảng cả, mà là những từ ngữ hùng biện thực dụng hết sức.

Có một vị sinh viên đại học năm thứ ba khi biện luận với tôi đã đến mức độ mặt đỏ tía tai nói rằng:

“Ở Trung Quốc Đại Lục, nếu muốn làm được điều mình muốn thì cần phải vào đảng, như vậy mới có cơ hội thăng tiến công danh đường đời, mới có thể nắm trong tay quyền thế; chỉ có nắm trong tay quyền lực to lớn, mới có thể làm ra sự nghiệp. Vào đảng thì có gì không tốt? Làm quan hay phát tài làm giàu thì có gì sai? Vừa có thể đem lại cho bản thân cá nhân và gia đình một cuộc sống có máu mặt danh vọng, lại vừa có thể đem lại cho xã hội những cống hiến vượt quá người bình thường.”

Phương thức sinh tồn giống nhau giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và thanh niên sinh viên

Nhìn trên bề mặt, phương thức sinh tồn của thanh niên sinh viên trí thức trẻ không hề có bất cứ điểm chung nào với một ý thức hệ giáo điều của Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mà, những người có hiểu biết và quen thuộc đối với lịch sử phát tích của Đảng Cộng sản Trung Quốc thì chỉ cần một cái nhìn sát hơn cũng có thể thấy được, phương thức sinh tồn của Đảng Cộng sản Trung Quốc – đoạt quyền, nắm quyền và duy trì chính quyền – thực chất là đồng nhất với phương thức sinh tồn của đám thanh niên sinh viên trí thức trẻ tuổi, đó chính là “lợi ích là tối cao” cùng với “để đạt được mục đích thì không từ thủ đoạn”.

Bởi vậy, “Thao quang dưỡng hối”, “nhịn xuống nỗi nhục”, “chỉ cần có sữa thì đều là mẹ”, “Vô độc bất trượng phu” và những lý lẽ tương tự trở thành chân lý trí tuệ sinh tồn, càng là trở thành tấm danh thiếp đặt chỗ trên con đường dẫm đạp đối nhân xử thế. Hơn nữa, với những người không hề có bất cứ sự truy cầu nào đối với một cuộc sống trải nghiệm, không có bất cứ giới hạn đạo đức nào như giống như đám khuyển nho hóa với trí tuệ sinh tồn như vậy, với một lịch sử đã quán xuyên qua hàng nghìn năm lịch sử, cũng chưa từng có sự thay đổi. Cái gọi là lý tưởng cộng sản dưới thời Mao Trạch Đông đã suy bại trước chủ nghĩa thực dụng “thuyết con mèo” trong thời đại Đặng Tiểu Bình, được coi là một trong những khác biệt lớn nhất giữa thời đại Mao và thời đại Đặng, trong khi đó trên thực tế thì sách lược sinh tồn và phương thức hành vi của Mao Trạch Đông đều xoay quanh “quyền lực”, khi nào lại có xuất hiện giữ vững lý tưởng và giới hạn đạo đức hay sao? Giọng điệu cao ngạo của Mao khi tự xưng rằng giải phóng toàn nhân loại không hề là chướng ngại đối với việc Mao không từ bất cứ thủ đoạn nào đày đọa và giết người, thậm chí còn mạnh miệng tuyên bố rằng không tiếc bất cứ giá nào hy sinh 1/3 dân số loài người để xây dựng nên một địa cầu toàn màu đỏ.

Nói một cách nói khác, bất luận là những sinh viên đại học hay trí thức tinh anh nào muốn tranh thủ gia nhập đảng một cách tích cực, hay là những quan chức bên trong bộ máy và những thương nhân ra đời làm ăn, cơ hồ tất cả bọn họ không có mấy ai thực sự muốn bảo vệ chế độ hiện hành trên phương diện đạo đức lẽ phải, nhưng hành động của bọn họ trong thực tế lại giúp cho sự ổn định của chế độ hiện hành.

Đối với hiện tượng những người bị chứng phân liệt nhân cách lại có cuộc sống an nhàn tự nhiên, có sự hài hòa hết sức đối với chứng phân liệt về tinh thần của toàn xã hội. Nguồn tin tức vỉa hè do giang hồ đồn đại, tin đồn chính trị và truyện tiếu lâm dung tục đã trở thành một kỳ quan của Trung Quốc Đại Lục từ sau Lục Tứ 1989, vừa trở thành công cụ phát tiết những bất mãn và công kích mang tính thời sự của người dân, còn được dùng để làm thứ thuốc kích thích nhằm điều tiết bầu không khí và thả lỏng tinh thần trên bàn tiệc. Trung Quốc đã thật sự bước vào cái gọi là “Thời đại gây cười”, ngoại trừ các loại tiết mục gala tối trên truyền hình, các chuyên mục giải trí, hài kịch và tiểu phẩm, những kẻ cầm quyền và sự hủ bại chốn quan trường trở thành kho đề tài lớn nhất cho truyện tiếu lâm và dân ca dân gian; gần như mỗi người đều có thể kể ra một đoạn tiếu lâm chính trị có nội dung dung tục và khiêu dâm; gần như mỗi thành thị hay các thôn làng đều lưu truyền rộng rãi một vài bài dân ca có tính châm biếm; chúng mới thật sự là ngôn ngữ công cộng của quần chúng nhân dân Trung Quốc Đại Lục, hình thành sự đối lập rõ rệt đối với những từ ngữ nặng chất tuyên truyền công khai trên truyền thông do nhà nước kiểm soát. Nếu như bạn mỗi ngày chỉ tiếp nhận duy nhất thông tin đến từ các nguồn công khai của nhà nước, thì sẽ cảm thấy cuộc sống của mình giống như đang ở trên thiên đường vậy; nếu như mỗi ngày đều chỉ nghe những tin tức tại các buổi gặp mặt riêng tư, thì sẽ cảm thấy rằng cuộc đời chính là địa ngục. Cái trước chỉ miêu tả toàn một mảnh sáng ngời, cái sau lại chỉ thể hiện ra sự đen tối không nhìn thấy mặt trời. Hơn nữa sự giao lưu tin tức và truyền bá của dân gian luôn không có cách nào công khai tiến hành dưới ánh sáng mặt trời, chỉ có thể lưu truyền trong phạm vi nhỏ bé giữa những cá nhân với nhau. Những lệnh cấm công khai và phi công khai của chính quyền đã tạo nên một chế độ chuyên thao túng sau bức màn đen; đám tư bản đỏ và các tập đoàn lợi ích tiến hành chia chác tài sản của toàn dân cũng như thao túng các âm mưu chính trị; sự lưu truyền những tin tức lời đồn ngoài phố được tạo nên bởi bức màn đen phi chính thống do sự thống trị trong sợ hãi, người dân phát tiết những bất mãn và tự tìm kiếm điểm giải trí bên trong bức màn đen; Hai loại hình tấm màn đen tối được người dân Trung Quốc tuân thủ bởi cùng một bộ quy tắc; đó là quy tắc ngầm bên dưới một chế độ chính quy.

Đám khuyển nho sinh sống trong một xã hội trái ngược với khoảng cách lớn như vậy lại không hề cảm thấy khó chịu chút nào: Chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn ổn định vững chắc bất chấp bị chửi rủa nghìn vạn lần ở những chốn riêng tư; đám quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn phong quang vô hạn dưới sự chửi rủa của người dân ở chốn riêng tư. Ở mỗi bữa cơm gặp mặt thân mật chốn riêng tư, đều là một buổi biểu diễn tiếu lâm chính trị để phát tiết bất mãn và ẩn ức chính trị. Có một số chuyện cười dâm đãng trào phúng chỉ trích đám lãnh đạo cấp cao Trung Quốc được biểu diễn đi biểu diễn lại trong vô số bàn tiệc tụ hội chốn thân mật. Nếu như nói rằng, khổ nạn, oán hận, bất công bất mãn là thứ cảm xúc chân thật được phát ra từ nội tâm của tầng lớp dưới đáy xã hội, vậy thì những oán hận của tầng lớp được lợi từ trật tự hiện hành trong xã hội (tầng lớp tư bản đỏ, các tập đoàn lợi ích, trí thức tinh anh các linh vực, tầng lớp cổ cồn trắng trong các đô thị) đã trở thành vở kịch tự biên tự diễn nhằm tìm khoái cảm trên mỗi mâm cơm, bàn tiệc. Chế giễu trào phúng sớm đã mất đi phong mang sắc bén vốn có của nó, mất đi sức mạnh chân chính của đạo nghĩa, kết thúc bởi tàn cuộc và giải tán của bữa ăn, hoàn toàn không hề có bất cứ ảnh hưởng nào lên một màn biểu diễn khác của bọn họ ở những nơi công cộng. Loại giải trí dân gian này giống như thuốc phiện, vừa có công năng gây đê mê, làm cho con người say sưa trong tiếng xóc bài Poker và âm thanh vui tai khi đánh mạt chược cũng như tiếng cười trên mỗi bàn tiệc, giống như những hàng hóa thương phẩm như vậy, tiêu hao đi những khổ nạn, hắc ám và bất mãn. Sau khi tiếng cười kết thúc thì mọi việc lại như cũ. Cái cần nói dối thì cứ nói dối, cần phải mặt dày tim đen thì cứ mặt dày tim đen, cần lợi nhuận về phần mình thì chính là bất chấp thủ đoạn…

Cảnh quan tinh thần ở Trung Quốc Đại Lục trong thời đại hậu toàn trị vừa phân liệt vừa thống nhất là một. Những mâu thuẫn hành vi mang tính phân liệt như khi ở bên trong thể chế và hành vi khi ở bên ngoài thể chế, ngôn ngữ của chính quyền và ngôn ngữ của người dân, những tuyên bố bày tỏ chốn công cộng và nội dung nói chuyện riêng tư, giữa hiện thực bi kịch và những biểu diễn hài kịch, tất cả những mâu thuấn này đã đạt đến một tình trạng làm cho người ta phải phát sốc. Nhưng những thứ mang tính phân liệt đó lại được thống nhất một cách kỳ diệu trong phong cách sinh tồn ở thời đại khuyển nho, những khổ nạn trong cuộc sống hiện thực được chuyển hóa thành những tiểu phẩm giải trí của người dân, phát tiết những bất mãn được chuyển hóa thành thuốc tự gây tê, những châm biếm chế giễu tầng lớp tư bản đỏ thoái hóa trở thành trò biểu diễn của bản thân. Ngoại trừ hưởng lạc và tiêu thụ, cơ hồ chỉ còn lại một thành quả đã bị biến đổi gen đặc biệt phát triển “duy lý tính của người làm kinh tế”, mưu cầu tối đa hóa lợi ích cá nhân bất chấp thủ đoạn.

Bắc Kinh ngày 15 tháng 9 năm 2004 tại nhà riêng.
(Đăng trên tạp chí Khai Phóng số tháng 10 năm 2004).

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Bài của dịch giả. DCVOnline biên tập và minh họa.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/17/ky-quan-tinh-than-trong-thoi-dai-hau-toan-tri/feed/ 0
Ca sĩ Việt Nam này đã cố chống lại sự kiểm duyệt của nhà nước. Bây giờ cô ấy chỉ trình diễn bí mật. http://dcvonline.net/2018/09/16/ca-si-viet-nam-nay-da-co-chong-lai-su-kiem-duyet-cua-nha-nuoc-bay-gio-co-ay-chi-trinh-dien-bi-mat/ http://dcvonline.net/2018/09/16/ca-si-viet-nam-nay-da-co-chong-lai-su-kiem-duyet-cua-nha-nuoc-bay-gio-co-ay-chi-trinh-dien-bi-mat/#respond Sun, 16 Sep 2018 04:00:25 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1544021 ]]> Paul Mooney | DCVOnline

HÀ NỘI — Khán giả ngồi trong thính phòng nhỏ xíu. Ánh đèn sân khấu mở ra từ từ, hiện lên bóng của bốn người đàn ông trên sân khấu đang vỗ ông tre để làm tiếng mưa rơi. Một phụ nữ trẻ mặc áo trắng bước vào ánh đèn và bắt đầu hát.

Cô là Đỗ Nguyễn Mai Khôi, ngôi sao nhạc pop, ứng cử viên chính trị bị loại, người ủng hộ dân chủ — và là người nhận Giải thưởng quốc tế Vaclav Havel năm nay cho nghệ sĩ bất đồng chính kiến, giải dành cho những nghệ sĩ dùng nghệ thuật sáng tạo để đẩy lùi chủ nghĩa độc tài.

Ở Việt Nam, nơi đảng Cộng sản cai trị với bàn tay sắt, Mai Khôi đã sử dụng lời ca để kết hợp các chủ tố đề kháng và phản đối. Điều đó đủ để làm cho cô trở thành kẻ thù của nhà nước trong con mắt của giới lãnh đạo Việt Nam; họ đang kềm chế chặt chẽ sự bất đồng trong nước ngay cả khi nó vượt đến phương Tây và những nước đối tác kinh tế quan trọng khác trong khu vực. Mai Khôi nói,

“Tôi bắt đầu viết về cảm xúc của nghệ sĩ và những người dân phải làm việc dưới hệ thống kiểm duyệt. Mọi người không cảm thấy tự do khi tác phẩm của họ bị kiểm duyệt.”

Ca sĩ trở thành người hoạt động nhân quyền Đỗ Nguyễn Mai Khôi trình diễn tại một buổi hòa nhạc bí mật tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2016. Nguồn: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images.

Mai Khôi bắt đầu chơi tây ban cầm lúc 8 tuổi, học với cha cô, một giáo viên âm nhạc. Đến 12 tuổi, cô theo cha chơi đàn tại các đám cưới để kiếm thêm tiền. Sau đó, cô đã theo học tại một trường âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh trong ba năm nhưng đã bỏ dở.

Mai Khôi nói cô ấy đã chán học chương trình cứng nhắc ở đó.

Điểm dừng chân sau đó của Mai Khôi là những quán bar và câu lạc bộ ở Thành phố Hồ Chí Minh, và cô đã có một số khán giả ái mộ. Nhưng Mai Khôi chỉ trở nên thật nổi tiếng vào năm 2010, khi cô giành giải Album nhạc của năm của Đài truyền hình Việt Nam.

Thay vì đi an toàn bên lề phải, Mai Khôi đã dùng danh tiếng và nhạc của mình để đấu tranh cho quyền của phụ nữ và LGBT và kêu gọi chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ.

Ngồi trong một quán cà phê nhìn ra Hồ Tây của Hà Nội, Mai Khôi đã thuật lại cách bạn bè bất đồng chính kiến đã khuyến khích cô ra tranh cử dân biểu Quốc hội Việt Nam vào năm 2016. Cô cho cuộc bầu cử là “giả mạo”. Nếu không có sự đỡ lưng của Đảng Cộng sản, các ứng cử viên độc lập không có cơ hội thắng cử. Nhưng cô quyết định thử một lần. Mai Khôi nói,

“Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể khuyến khích mọi người chú ý đến cuộc bầu cử. Trước đó không ai quan tâm đến chuyện này. Không ai nói lời nào về cuộc bầu cử.”

Mai Khôi đã bị loại ngay từ đoạn đầu, tên cô không có trên lá phiếu, nhưng nhiều người Việt Nam nói rằng cuộc vận động của cô đã thành công vì nó đưa đến một cuộc tranh luận chưa từng có trên toàn quốc về chính trị ở Việt Nam.


Mai Khoi meets President Obama to talk rights and freedom of artistic expression (2016). WH.GOV

Sự thất bại ở chính trường của Mai Khôi đã dẫn tới lời mời gặp Tổng thống Barack Obama cùng với một nhóm những bất đồng chính kiến và những người hoạt động nổi tiếng khác của Việt Nam trong chuyến thăm Việt Nam của Obama vào tháng 5 năm 2016. Ảnh chụp trong sự kiện này cho thấy Mai Khôi đang mỉm cười. Trong trang phục dân tộc Việt Nam, mặc áo dài đầy màu sắc, ngồi bên trái của Obama. Cô nói rằng cô đã phải trốn trước khi đến cuộc họp để tránh bị bắt giữ.

Cũng trong năm đó, cô bắt đầu viết lời ca với nhiều ý nghĩa chính trị hơn. Ca sĩ 34 tuổi này vừa được mệnh danh là Lady Gaga của Việt Nam — một sự so sánh mà cô ưa thích – và được so với như Pussy Riot, nhóm ca sĩ nhạc punk đồng thời là những người hoạt động ở Nga.

Sau đó, ngày 11 tháng 11 năm 2017, khi đoàn xe của Tổng thống Trump lái dọc những con phố của Hà Nội, Mai Khôi đứng trên vỉa hè cầm một biểu ngữ phản đối. Mai Khôi cho biết cco đã phản đối Trump vì ông là một “kẻ khinh rẻ phụ nữ” và vì ông đã không đưa ra những câu hỏi về các vụ áp bức nhân quyền trong các cuộc gặp gỡ với nhà chức trách Việt Nam.

Chính quyền Việt Nam bắt đầu quấy rối Mai Khôi và chồng của cô, Benjamin Swanton, người Úc. Các buổi hòa nhạc của cô bị cảnh sát đột kích, và hai vợ chồng cô đã bị đuổi ra khỏi nhà hai lần. Vào tháng Ba, Mai Khôi bị giam giữ tám giờ tại sân bay Hà Nội sau khi từ châu Âu trở về sau một chuyến lưu diễn, và các bản album mới nhất của cô đã bị tịch thu.

Ngày nay, Mai Khôi không thể trình diễn cho công chúng tại Việt Nam. Kết quả là, cô đã phải đi trình diễn ở nước ngoài hoặc tại các địa điểm bí mật ở Việt Nam, chẳng hạn như buổi trình diễn với những nghệ sĩ gõ ống tre.

Đầu tháng 9, Mai Khôi và ban nhạc của cô đã tổ chức các buổi biểu diễn tại Hoa Kỳ do Artists At Risk Connection, một chi nhánh của PEN America hỗ trợ, nâng đỡ cho các nghệ sĩ gặp nguy hiểm trên khắp thế giới. Trong số các hợp đồng trình diễn là một màn hát vào ngày 7/9 tại Dupont Underground ở Washington và một màn trình diễn khác vào ngày 11/9 tại National Sawdust ở Brooklyn. Một buổi trình diễn khác tổ chức tại Alice Tully Hall của Lincoln Center trong Diễn đàn Tự do Oslo, sẽ xẩy ra vào vào thứ Hai này.

Album mới nhất của Mai Khoi, “Bất đồng chính kiến” gồm một danh sách các tựa đề bài hát táo bạo như “Trại cải tạo”, “Bị còng trong Tự do” và “Làm ơn, thưa ngài”. Trong bài hát đó, cô cầu xin với một viên chức Đảng Cộng sản tại một giọng nói ngột ngạt:

“Làm ơn, thưa ngài,

Ông sẽ để cho chúng tôi hát chứ?

Hãy để chúng tôi treo những bức tranh lên để chiêm ngưỡng chúng,

Ông sẽ để cho chúng tôi yêu chứ?”

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Re-education camp (Trại phục hồi nhân phẩm) – Mai Khoi & The Dissidents. Mai Khoi
Published on May 15, 2017.


Nguồn: This Vietnamese singer tried to battle state censorship. Now she only performs there in secret. By Paul Mooney | The Washington Post | September 15, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/16/ca-si-viet-nam-nay-da-co-chong-lai-su-kiem-duyet-cua-nha-nuoc-bay-gio-co-ay-chi-trinh-dien-bi-mat/feed/ 0
Anwar ‘thất kinh’ với Suu Kyi, chỉ trích Trung Quốc có những trại giam người Hồi giáo http://dcvonline.net/2018/09/15/anwar-that-kinh-voi-suu-kyi-chi-trich-trung-quoc-co-nhung-trai-giam-nguoi-hoi-giao/ http://dcvonline.net/2018/09/15/anwar-that-kinh-voi-suu-kyi-chi-trich-trung-quoc-co-nhung-trai-giam-nguoi-hoi-giao/#respond Sat, 15 Sep 2018 04:00:36 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1541813 ]]> Daniel Ten Kate và Sophie Kamaruddin | DCVOnline

Anwar Ibrahim, người có thể trở thành thủ tướng tương lai của Malaysia, đã lên án người lãnh đạo Myanmar Aung San Suu Kyi về cách Miến Điện đối xử với sắc dân Rohingya…

Anwar Ibrahim, người có thể trở thành thủ tướng tương lai của Malaysia, đã lên án người lãnh đạo Myanmar Aung San Suu Kyi về cách Miến Điện đối xử với sắc dân Rohingya và kêu gọi có cuộc đàm phán chính thức về sự Trung Quốc đàn áp người thiểu số theo Hồi giáo. Trong một cuộc phỏng vấn với Sophie Kamaruddin của Bloomberg Television ở Hong Kong, Anwar nói:

“Tôi đã kinh hoàng trước thái độ của Suu Kyi trong những ngày này. Phật tử, người Hồi giáo, Kitô hữu đều ủng hộ bà ấy. Tại sao bà ấy phải tiếp tục làm ngơ trước những tội ác chống lại người thiểu số?”

Một số lượng khổng lồngười tị nạn Rohingya đã chạy trốn khỏi Myanmar vào tháng 8 năm ngoái. Nguồn: Sky News.

Liên Hiệp Quốc đã nói rằng cách đối xử với dân Rohingya ở Myanmar, nước đa số là dân Phật giáo, có thể xem như cuộc diệt chủng; Chính phủ của Suu Kyi đã phủ nhận báo cáo này. Cuộc khủng hoảng, đã khiến hơn 700.000 người Hồi giáo thiểu số ở Myanmar chạy trốn sang Bangladesh tị nạn, thậm chí không được đề cập đến trong chương trình nghị sự của một cuộc họp giới lãnh đạo châu Á tại Nepal hồi tháng trước.

Anwar, người đã có một thỏa thuận sẽ nhận trách nhiệm thay Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trong một hoặc hai năm tới, cũng đã lên tiếng về việc Trung Quốc đối xử với những người thiểu số Uighur nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Có nhiều bài tường thuật về những “trại cải tạo” bí mật đã bắt giữ hàng chục nghìn đến “lên tới 1 triệu” người Uighur, theo đánh giá của một ủy ban Liên Hiệp Quốc.

Trong khi chính phủ Malaysia nêu vấn đề người Uighur với Trung Quốc thì nhà chức trách ở Bắc Kinh coi đó là một vấn đề nội bộ, Anwar nói,

“Tin này đã lan truyền và đi vào giới truyền thông dòng chính như là một vấn đề chính trị xã hội, và tôi tin rằng chúng ta nên sử dụng một diễn đàn thích hợp để bắt đầu nhấn mạnh đến những vấn đề này và đạt được sự đồng ý với nhà chức trách Trung Quốc.”

Nhận định của Anwar có thể xem là phê bình mạnh nhất của một nhân vật lãnh đạo chính trị cao cấp ở châu Á, lên án sự bức hại những sắc dân thiểu số Hồi giáo. Riêng đối với Trung Quốc, các chính phủ ở các nước đa số người Hồi giáo từ Saudi Arabia đến Indonesia đều giữ im lặng ngay cả khi có lời kêu gọi ở Mỹ và châu Âu yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay những hành động bị cáo buộc là vi phạm nhân quyền.

OZAN KOSE / AFP / Getty Images: A người biểu tình, đeo  mặt nạ được sơn lá cờ của Đông Turkestan và một bàn tay mang bịt miệng màu sắc  lá cờ Trung Quốc, tham dự một cuộc biểu tình ủng hộ người người thiểu sốHồi giáo Uighur ở Tân Cương- TQ, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 5 tháng 7 năm 2018.

Trung Quốc chính thức phủ nhận những vấn đề ở Tân Cương, một vùng rộng lớn cỡ Alaska giáp với Pakistan và Afghanistan, nơi có khoảng 10 triệu người Uighur. Trong chuyến thăm Kuala Lumpur, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Wang Yi đã nhắc lại sự hỗ trợ cho chính phủ mới của Malaysia trong khi nói thêm rằng Trung Quốc sẽ không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của các nước khác. Tuyên bố đó lặp lại lời cảnh cáo đối với dân biểu Mỹ, những người đã kêu gọi cần phải có hành động trừng phạt đối với giới chức cao cấp của Trung Quốc.

‘Sợ hãi’

Khi được hỏi lý do tại sao các chính phủ Hồi giáo phần lớn im lặng về sự đàn áp người Uighur, Anwar nói, “Họ sợ hãi. Không ai muốn nói gì cả.”

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Mahathir đã đưa ra một quan điểm quyết đoán đối với Bắc Kinh, cảnh cáo chống lại “một phiên bản mới của chủ nghĩa thực dân” trong khi hủy bỏ các dự án hàng tỷ đô la được các công ty nhà nước Trung Quốc ủng hộ.

Suu Kyi đã phải đối phó với những lời chỉ trích ngày càng nhiều vì bà không bảo vệ tự do báo chí hay làm nhiều hơn để bảo vệ hàng trăm ngàn người thiểu số Hồi giáo. Chính phủ của bà đã từ chối lời yêu cầu của Liên Hiệp Quốc để mở một cuộc điều tra về vụ diệt chủng, nói rằng nó đã làm suy yếu nỗ lực chính thức nhằm mang lại hòa bình và hòa giải dân tộc. Trong một tuyên bố, Bộ ngoại giao Myanmar cho biết, báo cáo của Liên Hiệp Quốc “sẽ chỉ tạo ra sự chia rẽ và sự ngờ vực hơn nữa ở tiểu bang Rakhine và cả nước.”

Những lời chỉ trích của Anwar về Suu Kyi có vẻ mang tính cá nhân hơn. Cả hai đều là một trong những tù nhân chính trị nổi tiếng nhất châu Á, bị các chế độ đàn áp liên tục bỏ tù. Anwar mới được thả ra khỏi nhà tù vào tháng 5 sau khi liên minh chính trị của ông chấm dứt sáu mươi năm cai trị của đảng Barisan Nasional do cựu thủ tướng Najib Razak lãnh đạo.

‘Kinh tởm’

Vào năm 2012, vợ của Anwar, đương kim Phó Thủ tướng Wan Azizah Wan Ismail đã gửi cho Suu Kyi một bức thư chúc mừng bà đã thắng trong cuộc bầu cử và yêu cầu bà sử dụng quyền lực của mình để giúp người Rohingya. Wan Azizah viết,

“Tiếng nói của bà có sức mạnh và tôi xin bà nên sử dụng tiếng nói đó để che chở cho những người bị áp bức. Tôi mong chờ sự thành đạt của bà ở Myanmar, như thế số phận của tất cả các công dân của bà, kể cả người dân Rohingya sẽ được cải thiện.”

Hôm thứ Tư tại Hồng Kông, Anwar nói “ghê tởm” có thể thích hợp hơn để mô tả cảm giác của ông đối với bà Suu Kyi. Ông ấy nói bà ta thậm chí còn không sẵn sàng để nói “hãy ngừng việc giết người.” Ông nói thêm,

“Aung San Suu Kyi thực sự là một thất vọng.”

Bloomberg không thể liên lạc ngay lập tức với Zaw Htay, người phát ngôn của chính phủ Suu Kyi, để cps câu trả lời. Văn phòng Thủ tướng Malaysia không thể bình luận ngay lập tức.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Anwar ‘Appalled’ by Suu Kyi, Criticizes China’s Muslim Camps. Daniel Ten Kate and Sophie Kamaruddin được Anisah Shukry, và Kyaw Thu bổ túc | Bloomberg | September 12, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/15/anwar-that-kinh-voi-suu-kyi-chi-trich-trung-quoc-co-nhung-trai-giam-nguoi-hoi-giao/feed/ 0
Việt Nam bỏ tù người hoạt động 12 năm http://dcvonline.net/2018/09/14/viet-nam-bo-tu-nguoi-hoat-dong-12-nam/ http://dcvonline.net/2018/09/14/viet-nam-bo-tu-nguoi-hoat-dong-12-nam/#respond Fri, 14 Sep 2018 04:00:44 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1541195 ]]> DCVOnline | Tin Reuters

Chỉ vài ngày sau khi hai người ngoại quốc vận động nhân quyền bị cấm tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Hà Nội, hôm thứ Năm Luật sư của bị cáo cho biết một tòa án ở miền Trung Việt Nam đã bỏ tù một người bị cáo buộc đã “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đến 12 năm.

Ông Nguyễn Trung Trực. Nguồn Dân Trí.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng, cho biết ông Nguyễn Trung Trực, 44 tuổi, cũng bị kết án năm năm quản chế sau khi mãn hạn tù vào ngày thứ Tư tại Quảng Bình.

Trong một tuyên bố, công an tỉnh Quảng Bình cho biết Trực, bị bắt vào tháng 8 năm ngoái, là một trong những nhóm thành lập Hội “Anh em Dân chủ” năm 2013, đã thực hiện “các hoạt động chống chính phủ” để “xây dựng nền dân chủ đa đảng” tại Việt Nam.

Luật sư của ông Trực nói, ông đã không nhận tội và không đồng ý với nội dung của bản cáo trạng, và sẽ kháng cáo. Luật sư Miếng nói,

“Ông ta nói ông ta đang đấu tranh cho môi trường và vì nhân quyền, chứ không hoạt động nhằm lật đổ nhà nước.”

Mặc dù đã cải cách kinh tế sâu rộng và có sự cởi mở cho thay đổi xã hội hơn trước, Đảng Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam vẫn kiểm duyệt truyền thông chặt chẽ và không chấp nhận sự chỉ trích.

Việt Nam trong tuần này đã từ chối không cho hai người vận động nhân quyền nhập cảnh tham dự cuộc họp được tổ chức tại Hà Nội, được xem như là tập hợp ngoại giao lớn nhất của Việt Nam trong năm nay.

Hoa Kỳ, nước đã làm việc để thiết lập mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam đồng thời cùng có những lo ngại chung về Trung Quốc, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao cho biết Mỹ “rất quan tâm” đến bản án của ông Trực. Phát ngôn viên cho biết thêm,

“Khuynh hướng bắt giam đang tăng và những bản án khắc nghiệt đối với những người hoạt động ôn hòa ở Việt Nam thật đáng lo ngại. Chúng tôi ghi nhận rằng Việt Nam đã kết án 25 người hoạt động ôn hòa chỉ trong năm 2018.”

“Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam thả tất cả các tù nhân lương tâm ngay lập tức và cho phép tất cả các mọi người ở Việt Nam bày tỏ quan điểm của họ một cách tự do và tụ họp ôn hòa mà không sợ bị trả thù.”

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Vietnam court jails activist for 12 years | Reuters | September 12, 2018. Khánh Vũ tại Hà Nội đưa tin; David Brunnstrom ở Washington bổ túc; Clarence Fernandez và Leslie Adler biên tập.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/14/viet-nam-bo-tu-nguoi-hoat-dong-12-nam/feed/ 0
Thủ đô Hà Nội của Việt Nam kêu gọi người dân ngừng ăn thịt chó, thịt mèo http://dcvonline.net/2018/09/13/thu-do-ha-noi-cua-viet-nam-keu-goi-nguoi-dan-ngung-an-thit-cho-thit-meo/ http://dcvonline.net/2018/09/13/thu-do-ha-noi-cua-viet-nam-keu-goi-nguoi-dan-ngung-an-thit-cho-thit-meo/#respond Thu, 13 Sep 2018 04:00:36 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1539729 ]]> Casey Quackenbush | DCVOnline

Chính quyền Việt Nam đang kêu gọi người dân thành phố thủ đô Hà Nội ngừng ăn thịt chó, nhằm bảo vệ danh tiến Hà Nội như một “thủ đô văn minh và hiện đại” và cũng để ngăn chặn sự lây lan của bệnh tật như bệnh dại.

Một con chó chờ bị làm thịt để bán làm thức ăn ở làng Dương Nội, ngoài Hà Nội ngày 16 tháng 12 năm 2011. Nguồn: Nguyễn Huy Khâm-Reuters

Theo báo cáo của Channel News Asia có hơn 1.000 cửa hàng ở Hà Nội bán thịt có và thịt mèo, nhưng nhà chức trách lo ngại việc ăn thịt chó, mèo có thể làm hoen ố danh tiếng của Hà Nội đối với người nước ngoài và khách du lịch. Ủy ban nhân dân Hà Nội cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Ba,

“Việc buôn bán, giết hại và ăn thịt chó và mèo đã gây phản cảm trong giới du khách và người nước ngoài sống ở Hà Nội.”

Lời kêu gọi của của chính phủ cũng cảng cáo về sự lây lan của bệnh dại và các bệnh khác do động vật gây ra. Theo AP, quyết định này là một phần của chương trình của Việt Nam để diệt bệnh dại vào năm 2021. Số liệu chính thức cho biết năm nay đã có ba người chết vì căn bệnh này ở Hà Nội và đã được xác nhận là bị nhiễm bệnh,.

Theo tin của CNA Ủy ban Nhâ dân thành phố Hà Nội cũng kêu gọi người dân ngưng bán thịt mèo, vốn ít phổ biến hơn, nhưng vẫn còn bán ở hàng chợ. Nhiều thú vật bị giết làm thịt dã man và nhà chức trách thành phố nói họ hy vọng tập quán này sẽ mất dần đi.

Hà Nội nổi tiếng với nền văn hóa ẩm thực đường phố sôi động, được để ý đến nhiều hơn vào năm 2016 khi Tổng thống Obama và đầu bếp Anthony Bourdain cùng ăn bữa bún chả Hà Nội giá 6 đô la cho một chương trình của Anthony Bourdain: Parts Unknown.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Vietnam’s Capital Hanoi Urges Residents to Stop Eating Dog and Cat Meat | Casey Quackenbush | Time | September 12, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/13/thu-do-ha-noi-cua-viet-nam-keu-goi-nguoi-dan-ngung-an-thit-cho-thit-meo/feed/ 0
Sẵn sàng mua xe từ Việt Nam chưa? VinFast sắp gây chấn động ở Paris http://dcvonline.net/2018/09/12/san-sang-mua-xe-tu-viet-nam-chua-vinfast-sap-gay-chan-dong-o-paris/ http://dcvonline.net/2018/09/12/san-sang-mua-xe-tu-viet-nam-chua-vinfast-sap-gay-chan-dong-o-paris/#respond Wed, 12 Sep 2018 04:00:07 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1538991 ]]> David Kiley | DCVOnline

Hãng xe Việt Nam VinFast sẽ trưng bầy chiếc SUV này tại Paris Auto.

Mẫu xe SUV đầu tiên của VINFAST, ser trưng bầy tại Paris. Nguồn: VINFAST

Nếu Vinfast, công ty sản xuất ô tô đầu tiên của Việt Nam, thành thật về việc giành thị phần ô tô toàn cầu, thì kiểu xe đầu tiên mà họ đem trình bầy trước thế giới không không thấy dấu hiệu rằng họ xem trọng cho lắm trong việc giật gân làng ô tô thế giới với mẫu xe đầu tiên.

VINFAST dự định trưng bày hai mẫu xe tại Paris Motor Show, một chiếc sedan và một chiế crossover. Cả hai loại xe đều do công ty Pininfarina của Ý làm việc với VinFast vẽ kiểu,.

Vấn đề vấp phải trong quy trình sản xuất của VinFast là họ đưa ra khoảng 20 mẫu vẽ do 4 nhà vẽ mẫu của Ý thực hiện và để công chúng Việt Nam bỏ phiếu chọn mẫu xe họ thích. Cuộc thăm dò đó đã thu hút khoảng 62.000 người.

VinFast sẽ trình bầy chiếc sedan này tại The Paris Auto Show. Nguồn: VINFAST

Chiếc sedan bốn cửa là một mấu vẽ rất khéo, và bắt chước nhiều nét trong những mẫu xe hiện nay của Ford, Hyundai, Opel, Volkswagen, như nếp xếp, bị gián đoạn, chạy từ đèn sau đến đèn pha, và sơn đen cột B, thay kiểu cả cửa trước và sau. Nhưng nó có thể giống như bất kỳ chiếc sedan nào trên thế giới, như người ta thấy ở khắp mọi nơi.

Chiếc SUV không có nhiều khác biệt về mẫu vẽ nói chung trừ vài điểm. Chiếc SUV của VinFast: có phần đầu xe vạm vỡ, và dựa trên những hình ảnh đã công bố, nó có thể thiếu chỗ chở hàng sau xe.

Các thông số kỹ thuật quan trọng khác cho thị trường Việt Nam, Ấn Độ, Malaysia, Trung Quốc, Úc – chưa được công bố; hiệu suất và dung tích của động cơ, mức tiết kiệm nhiên liệu và các kế hoạch tương lai thay thế cho máy nổ chạy xăng (tức là máy chạy điện).

David Lyon, giám đốc thiết kế của VinFast nói trong một tuyên bố.

“Mẫu xe rất khác biệt, nổi bật nhờ những nét thanh lịch và những chi tiết tao nhã làm cho xe của chúng tôi có mốt số nét đẹp nổi bật.”

“Trước tiên và quan trọng nhất là biểu tượng chữ “V” trên lưới ở mũi xe để chỉ Việt Nam, cũng như thương hiệu Vingroup và VinFast. Cùng với Pininfarina, chúng tôi-đã cẩn thận vẽ từng nét trên thân xe để diễn tả vẻ đẹp tự nhiên của Việt Nam và đặc điểm tốt bụng và năng động của người Việt Nam bằng ngôn ngữ thiết kế hiện đại ở đẳng cấp thế giới.”

OK đi. Nhưng những chiếc xe này có thể là bất kỳ sản phẩm của bất kỳ nhà sản xuất ô tô nào trên thế giới. Điều khác biệt duy nhất là chúng được sản xuất tại Việt Nam. Sẽ thật thú vị khi thấy và nghe được VinFast làm thế nào để đưa thương hiệu của họ vào tầm cỡ củng những đối thủ cạnh tranh trong thị trường xe trên thế giới.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Ready To Buy A Car From Vietnam? VinFast Is Looking To Make A Splash | David Kiley | Forbes, September 10, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/12/san-sang-mua-xe-tu-viet-nam-chua-vinfast-sap-gay-chan-dong-o-paris/feed/ 0
9/11 http://dcvonline.net/2018/09/11/9-11/ http://dcvonline.net/2018/09/11/9-11/#respond Tue, 11 Sep 2018 15:00:58 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1537350

Thế giới không quên tất cả nạn nhân đã thiệt mạng 17 năm về trước. Nguồn: ABC News

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/11/9-11/feed/ 0
Về hai luồng văn học hiện đại http://dcvonline.net/2018/09/11/ve-hai-luong-van-hoc-hien-dai-2/ http://dcvonline.net/2018/09/11/ve-hai-luong-van-hoc-hien-dai-2/#respond Tue, 11 Sep 2018 04:00:00 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1537343 ]]> DCVOnline – Phỏng vấn

Trong khuôn khổ giới thiệu đến bạn đọc những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam trong cũng như ngoài nước, kỳ này chúng tôi có một vị khách mời phỏng vấn là anh Phùng Nguyễn.

Phùng Nguyễn tên thật là Nguyễn Đức Phùng, 58 tuổi, công tác trong lĩnh vực IT, hiện là Biên tập viên trang mạng Da Màu. Anh đã từng tham gia vào các trang mạng như Văn, Hợp Lưu, Tiền Vệ…

Với vị trí biên tập viên của một trang mạng chuyên về văn học nghệ thuật, Phùng Nguyễn có những trao đổi khái quát về văn chương Việt Nam thời hiện đại trong và ngoài nước, về vai trò của Internet, của xa lộ thông tin trong quá trình gặp gỡ và phát triển của hai dòng văn học trong – ngoài này, và về trang mạng Da Màu như sau…

trang web Da Màu. Nguồn: damau.org

DCVOnline: Bạn có thể kể lại quá trình hình thành “Da Màu”?

Phùng Nguyễn: Đặng Thơ Thơ, Đỗ Lê Anh Đào và tôi trước đó cùng cộng tác với tạp chí Hợp Lưu. Tôi rời Hợp Lưu trước vài năm, sau đó Đặng Thơ Thơ và Đỗ Lê Anh Đào cũng ra khỏi Hợp Lưu. Chúng tôi muốn tiếp tục chủ đề Màu da và Ngôn ngữ, bản thân tôi cũng có ý định mở một một website văn chương nên tôi đã thiết kế web Da Màu với các chức năng cần thiết để hoạt động như một tạp chí online.

Chúng tôi kêu gọi bạn bè đóng góp công sức, thành lập Ban Biên tập và tạp chí Da Màu chính thức hoạt động từ đầu tháng 8/2006.

DCVOnline: Tại sao lại là “Da Màu” mà không là da gì khác nhỉ, thưa bạn?

Phùng Nguyễn: DCVOnline không phải là “người” đầu tiên hỏi câu này. Có rất nhiều văn hữu, độc giả thắc mắc, thậm chí còn chỉ trích là Ban Biên tập Da Màu có tự ti, mặc cảm.

Hãy nghe Đặng Thơ Thơ giải thích điều này với thính giả của đài RFA.

“Cái tên Da màu là biểu tượng cho thời đại mới, khi thế giới chúng ta sống không chỉ đơn giản phân chia thành màu trắng hay không trắng nữa, thế giới bây giờ giống như một lễ hội tưng bừng với tất cả tiếng nói, màu da, chủng tộc khác biệt cùng chung sống, có ảnh hưởng qua lại với nhau.”

Như vậy, Da Màu hoàn toàn không đến từ tự ti mặc cảm. Hơn nữa, tiêu chí của Da Màu là “văn chương không biên giới” và mục tiêu là “thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật”.

Trong một bài viết nhằm kỷ niệm “thôi nôi” của Da Màu (08/2007), tôi có đề cập: “Da màu” đã trở thành một thứ thương hiệu, và những đoán định, những dư luận khen chê chung quanh cái tên của tạp chí này đã không còn tính thời sự nữa. Điều quan trọng là chủ trương và hiệu ứng của những hoạt động của Da Màu.

DCVOnline: Được biết bạn là “dân” IT đi làm văn chương, có gì trái ngược ở đây không?

Phùng Nguyễn: Thực ra, có khá nhiều “dân” làm việc trong các ngành kỹ thuật, kể cả IT, ở hải ngoại đồng thời hoạt động văn chương (không biết ở Việt Nam thì sao!) Một vài ví dụ điển hình như Trần Vũ, Thương Quán, Trần Hoài Thư cũng là dân IT đó.

Tôi không thấy có điều gì “trái nghịch” ở đây. Tôi cho rằng phần kỹ thuật hoặc kiến thức khoa học mà tác giả sở hữu không có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng viết lách. Trong trường hợp của tôi, ít nhất, những kiến thức kỹ thuật giúp tôi khá nhiều trong hoạt động bảo quản website Da Màu và Cafe Da Màu.

Tóm lại, ai cũng có thể làm văn chương, không nên “loại trừ” dân IT.

DCVOnline: “Văn chương không biên giới” của Da Màu đã đón nhận luồng văn học nghệ thuật trong nước ra sao?

Phùng Nguyễn: Đúng như cái tên, Da Màu chủ trương phá bỏ các biên giới đã đề cập ở trên. Cho nên văn học nghệ thuật trong nước hay ngoài nước không hề là lý do cho việc chọn lọc, đón nhận các tác phẩm. Không những vậy, Da Màu còn khuyến khích những đóng góp văn học của các tác giả trong nước, đặc biệt các tác giả không được “đãi ngộ” xứng đáng với tài năng của họ vì nhiều lý do.

Các bạn có thể tìm thấy trên tạp chí và Cafe Da Màu các khuôn mặt văn chương thuộc mọi “luồng”, mọi trường phái trong và ngoài nước.

Da Màu không chấp nhận bất cứ biên giới nào, trừ biên giới cuối cùng giữa văn chương và phi văn chương.

DCVOnline: Theo bạn, đâu là sự khác biệt giữa luồng văn học nghệ thuật Việt Nam hiện tại trong nước và ngoài nước?

Phùng Nguyễn: Câu hỏi này hơi rộng, tôi không thể đi sâu vào nhiều lĩnh vực. Xin đưa ra một vài điểm dị biệt khá “nổi cộm”.

Ở trong nước, cùng với kinh tế thị trường và phát triển của Internet, tác giả trong nước có cơ hội va chạm và học hỏi nhiều hơn ở văn học thế giới. Một số sáng tác mới, đặc biệt của giới trẻ, cho thấy ảnh hưởng “quốc tế” này. Tuy nhiên, một số vấn đề như cơ chế sinh hoạt nặng nề của giới văn học “chính thống”, yếu kém về chất lượng các tác phẩm dịch từ ngoại ngữ, chế độ kiểm duyệt và tự kiểm duyệt của ngành xuất bản đã phần nào làm chậm lại những phát triển tích cực của nỗ lực “làm mới” văn học nội địa.

Tuy vậy, những vấn đề nêu trên không nhất thiết phải áp dụng cho một thiểu số không được hoặc từ chối không thuộc về giới “chính thống”. Họ “phát minh” hoặc du nhập một hay nhiều cung cách diễn đạt mới lạ, quay lưng lại một cách quyết liệt với văn chương “truyền thống, nề nếp” và ngay cả không chấp nhận bị kiểm duyệt bằng cách ấn hành tác phẩm của mình mà không xuyên qua quy định của ngành xuất bản trong nước.

Một cách ngắn gọn, có một lằn ranh khá rõ rệt giữa một bên gọi là “chính thống” và những người không ở cùng phía, hoặc “ngoài luồng”.

Tại hải ngoại, có một số lợi thế dành tác giả hải ngoại trong các bộ môn sáng tác, lý luận, và, biên khảo. Không bị kềm hãm bởi chế độ kiểm duyệt, thuận tiện trong các nguồn tư liệu, gần gũi, sâu sát với các khuynh hướng văn học thế giới…

Có thể nhìn thấy một số vận động đổi mới tư duy văn học trong nước bắt nguồn từ những khuynh hướng xuất phát từ hải ngoại …

Văn học hải ngoại có thể đảm nhiệm một số vai trò như điều hợp, phát triển giao lưu văn học Việt Nam và thế giới xuyên qua các website văn chương. Từ đó những chuyển động văn học hiện đại của thế giới được ghi nhận, phổ biến và xuyên qua dịch thuật, văn chương Việt ngữ được giới thiệu đến độc giả quốc tế. Ngoài ra còn giúp phổ biến rộng rãi hơn tác phẩm văn học trong và ngoài nước. Xuyên qua các website văn học, tác phẩm bất kể viết bởi ai, ở đâu đều có thể đuợc thưởng thức.

Các diễn đàn mạng thiết lập ở hải ngoại trở thành nơi những người viết trong nước ở các luồng đối nghịch nhau có cơ hội gặp gỡ nhau qua những điều họ viết xuống. Có thể tìm thấy bằng chứng ở các website Talawas, Tiền Vệ, Da Màu,…

DCVOnline: Một cách cụ thể , theo bạn, luồng văn học hải ngoại đã vận động văn chương trong nước “đổi mới tư duy” theo cách nào?

Phùng Nguyễn: Tôi sẽ không đào sâu vào vấn đề, nhưng một cách cụ thể, có thể đọc qua một số nhận định của chính các nhà văn, nhà thơ trong nước như Nguyễn Viện về ảnh hưởng của văn học, lý luận văn học đến từ hải ngoại:

Trước đây, tôi chỉ được nghe Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc Tuấn nói chuyện chơi về văn chương trong bàn nhậu, khi Quốc và Tuấn về Việt Nam. Cho đến khi tôi có ý muốn tham gia vào một dự án nghiên cứu cho William Joiner Center thì tôi mới thật sự được biết kỹ hơn về văn chương Việt hải ngoại, qua tìm hiểu sách báo và trên internet, đặc biệt là qua các thông tin của hai anh Phan Nhiên Hạo và Thận Nhiên. Họ đã giúp tôi có một cái nhìn tổng thể về thơ ca hải ngoại của người Việt. Tôi cho rằng thơ ca hải ngoại có sự đóng góp rất lớn cho văn chương Việt Nam, ở cả hai mặt tác động và hình thành.

Ngoài ra, các tạp chí Việt (tiền thân của Tiền Vệ), tạp chí Thơ là những nơi mà một số chuyển động văn học hiện đại được “nhập cảng”.

DCVOnline: Đó là đúc kết những đánh giá của các nhà văn khác, nhưng đối với bạn, trong tư cách một biên tập viên của Da Màu, bạn thấy những điều gì rõ rệt nhất trong sự ảnh hưởng này?

Phùng Nguyễn: Ở cương vị một biên tập viên của Da Màu, tôi cho rằng có một ảnh hưởng tương tác, và trải qua một quá trình.

Da Màu với chủ trương “văn chương không biên giới”, ngay từ đầu đã tránh áp đặt quan điểm mỹ học của cá nhân hoặc nhóm (Ban Biên tập) lên tác giả và độc giả, bất kể họ đến từ bên này hay bên kia Thái Bình Dương.

Đa số thành viên Ban Biên tập Da Màu quen thuộc với quan điểm mỹ học Âu Mỹ, đôi khi cách thẩm định tác phẩm không có nhiều tính “Việt Nam”. Trải qua một thời gian va chạm với tác phẩm gửi ra từ nội địa, cách nhìn cũng có thể thay đổi phần nào.

Trong cùng một lúc, tác giả và độc giả có nhiều cơ hội tiếp xúc với tác phẩm ngoại quốc qua phần dịch thuật cũng có điều kiện để rà xét lại quan điểm mỹ học của mình.

DCVOnline: “Tính Việt Nam” trong văn học hiện đại phải được hiểu như thế nào cho đúng đây?

Phùng Nguyễn: Tôi không nghĩ mình có câu trả lời cho câu hỏi này. Tôi nhớ một cách không chính xác là văn chương Việt Nam có nhiều Việt Nam hơn là “thế giới”. Tôi e rằng “tính Việt Nam” trong văn học “hiện đại” là một điều vô cùng trừu tượng để thảo luận.

DCVOnline: Về vấn đề ngôn ngữ trong văn học nghệ thuật, bạn có thấy ngôn ngữ Việt hải ngoại “đóng kín” hơn so với luồng văn học trong nước hay không?

Phùng Nguyễn (Ng. Đ. Phùng, bìa phải) với bạn văn (từ trái) Bùi Vĩnh Phúc, Đặng Thơ Thơ, Trần Vũ, Đỗ Lê Anh Đào (2004). Nguồn: http://phannguyenartist.blogspot.com

Phùng Nguyễn: Tất nhiên là “ngôn ngữ Việt hải ngoại”, vì điều kiện địa lý và nhân số, không thể phát triển ở cùng một mức độ như trong nước. Điều này có thể trở thành một vấn đề lớn cho giới viết lách hải ngoại nếu không có cái gọi là Internet.

“Ngôn ngữ văn học” không nhất thiết phải có cùng mức độ phát triển như ngôn ngữ sử dụng trong đời sống thường nhật, và ở mức độ “giao lưu” văn học qua các website văn chương như hiện tại (và nhất định sẽ còn phổ biến rộng rãi hơn nữa), tôi không cho rằng sẽ có một khoảng cách đáng kể nào giữa trong và ngoài nước về phương diện này.

Không những thế, tôi còn cho rằng ngôn ngữ văn học sẽ được làm giàu thêm bởi sự đóng góp đồng đều từ cả hai phía, trong và ngoài nước nhờ vào khả năng thông tin nhanh nhạy của hệ thống Internet.

DCVOnline: Văn học Việt Nam hiện đại nói chung đang đứng ở đâu so với văn học các nước Âu Mỹ?

Phùng Nguyễn: Theo tôi, hình như ở một nơi nào đó… sau lưng đám Âu Mỹ này!

DCVOnline: Thế khoảng cách có xa lắm không, và làm sao để thu ngắn lại khoảng cách này?

Phùng Nguyễn: Tôi cho rằng khá xa.

Làm sao để thu ngắn lại khoảng cách này? Tôi e rằng mình không ở vị trí “cố vấn” văn chương nên không biết trả lời như thế nào.

Tôi tin rằng tạp chí Da Màu, cùng với các tụ điểm văn học Việt Nam khác, đã và đang có những nỗ lực giúp thu ngắn khoảng cách này với những hoạt động, chương trình cụ thể để “mang thế giới đến với Việt Nam” và “mang Việt Nam đến với thế giới” xuyên qua công việc dịch thuật từ tiếng Việt và sang tiếng Việt.

Liệu những nỗ lực này có giúp thu ngắn khoảng các đề cập ở trên hay không thì tôi không biết chắc, nhưng tôi tin rằng Da Màu đã chọn đúng hướng đi cho mình.

DCVOnline: Những nhà văn không thuộc giới “chính thống”, số phận của họ ra sao kể từ khi cộng tác với Da Màu?

Phùng Nguyễn: Tôi nghĩ “số phận” của họ không đến nỗi nào, bất kể có cộng tác với Da Màu hay không.

Như đã nói ở một đoạn trên, họ đã bày tỏ được sự “độc lập” không chỉ trong tư duy mà cả trong hành động trong một hoàn cảnh không được thuận lợi cho lắm (trong nước). Việc cộng tác với Da Màu và các website ở hải ngoại là một lựa chọn ý thức của họ, và Da Màu luôn cảm thấy hân hạnh nhận được sự cộng tác quý giá này.

Nói tóm lại, chính họ định đoạt “số phận” của mình, và không chỉ số phận mà cả “tư thế” của họ nữa.

DCVOnline: Nhìn vào danh sách Ban Biên tập của Da Màu, không thấy một nhà văn nào trong nước cả, tại sao?

Phùng Nguyễn: Điều này thật ra cũng dễ hiểu. Trước hết, công việc biên tập không nhẹ nhàng, tốn kém nhiều thì giờ, đòi hỏi phải nối mạng thường xuyên. Chỉ riêng điều này cũng có thể là một yêu cầu không phải ai trong nước cũng đáp ứng được.

Tuy nhiên, không nhất thiết phải có tên trong Ban Biên tập mới có thể đóng góp nhiều cho tạp chí Da Màu. Nếu không có một mạng lưới thân hữu gồm các tác giả trong và ngoài nước, Da Màu đã không có cơ hội thực hiện những chuyên đề văn học, đặc biệt các chuyên đề về văn học Việt Nam vốn đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ của tác giả trong nước.

Ngoài ra, Da Màu đã và sẽ tiếp tục thực hiện một số chuyên đề mà trách nhiệm biên tập thuộc về một hay nhiều “khách mời”.

DCVOnline: Có những tác giả Việt Nam mà cuộc đời và tác phẩm của họ vẫn còn mang nhiều bí ẩn của lịch sử, Da Màu có kế hoạch vén bức màn bí ẩn này như thế nào?

Phùng Nguyễn: Các bạn có thể tìm đọc chuyên đề về nhà văn Cung Tích Biền, hoặc gần đây nhất, chuyên đề Hoàng Đạo để tìm câu trả lời.

Da Màu với sự cộng tác của thân hữu, tiếp xúc với các tác giả “mà cuộc đời và tác phẩm của họ” (chữ của DCVOnline) vẫn là một ẩn số, để tìm hiểu về họ và nhất là để tạo điều kiện cho họ nói về những điều họ muốn và cần lên tiếng. Da Màu sẽ tiếp tục những chuyên đề theo chiều hướng này.

DCVOnline: Bỗng dưng tôi nhớ đến một quan niệm đã được tranh luận sôi nổi một thời, đem ra đây hỏi bạn luôn vậy, đối với quan điểm riêng của bạn, nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật?

Phùng Nguyễn: Tôi không muốn chọn chỉ một trong hai điều trên. Tôi thích có được quyền áp dụng một trong hai điều trên tùy thuộc vào cái bối cảnh trong đó “nghệ thuật”, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bản nhạc được sáng tạo. Tại sao phải chọn nếu có thể và có quyền có tất cả?

DCVOnline: Web Da Màu từ lúc thành lập cho đến nay, có bị đánh phá nhất là về mặt kỹ thuật lần nào chưa?

Phùng Nguyễn: Có vài lần, nhưng không biết nguồn của những vụ “tấn công” theo kiểu “Denial of service” (DoS) này.

DCVOnline: Cảm ơn bạn đã dành cho DCVOnline cuộc phỏng vấn này.

© 2008-2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Bài đăng lần thứ nhất ngày 27-07-2008 trên DCVOnline.net

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/11/ve-hai-luong-van-hoc-hien-dai-2/feed/ 0
Một mặt thật khác của Bùi Tín http://dcvonline.net/2018/09/10/mot-mat-that-khac-cua-bui-tin/ http://dcvonline.net/2018/09/10/mot-mat-that-khac-cua-bui-tin/#respond Mon, 10 Sep 2018 04:00:55 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1534629 ]]> Nguyễn văn Lục

Bùi Tín đã vĩnh viễn ra đi tại Paris. Cát bụi đã trở về cát bụi cho một kiếp nhân sinh, nhưng tiếng và tăm qua ngòi bút của ông còn ở lại.

Một mặt thật khác của Bùi Tín
hay

Bùi Tín, từ “Hoa Xuyên Tuyết” (1992) đến “Following Hồ Chí Minh, The Memoirs of a North Vietnamese colonel” (1994) rồi “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime” (1999)

Một Tác phẩm của Bùi Tín. Nguồn: DCVOnline

Những người đã một thời gọi là “đồng chí” của ông ở trong nước đang ở vị thế cầm quyền đã ngoảnh mặt đi. Họ để cho các cơ quan truyền thông của họ làm công việc mà họ thường làm. Đối với họ, Bùi Tín là một sự phản bội chính trị khó tha thứ được. Nó như một thứ phản bội Chúa trong tôn giáo.

Còn đối với những kẻ vốn một thời thuộc “thành phần trí thức thiên tả” ở hải ngoại đã trót hùa theo cộng sản — phần đông trước đây họ nói to, họ hô hào — nay họ giữ im lặng. Sự im lặng ấy được coi như mội thái độ chính trị “tiết tháo” đứng bên lề thời cuộc.

Và nếu còn có một ai có cử chỉ đẹp đối với ông thì có thể đó là các đàì BBC, VOA. RFA.

Đài BBC, ngày 12-8-2018 trong bài Nhà báo BBC Đỗ Văn nhớ về Bùi Tín ông Đỗ Văn gọi Bùi Tín là “Người làm thức tỉnh lương tri người cộng sản”. Nhân dịp này, ông đã nhắc lại những lần ông gặp gỡ Bùi Tín tại Hà Nội hai lần cũng như sau này tại Paris, tại Luân Đôn. Chỉ rất tiếc, ông không đả động đến việc ông chính là người dịch cuốn “Hoa Xuyên Tuyết”, nxb Nhân Quyền, (1991) của Thành Tín thành “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel”, by Bui Tin (Author), Do Van (Translator), Judith A. Stowe (Translator), C Hurst & Co Publishers Ltd (Jan. 31 1994).

Đài RFA viết “Bùi Tín là một nhà báo trọn đời”.

Quốc Phương (BBC), “Hoa Xuyên Tuyết chính là khát vọng Tự Do”.

Đài VOA, Bùi Tín, “một chứng nhân lịch sử đã ra đi”. Tất cả đều là những lời lẽ trân trọng đối với kẻ ra đi.

Riêng nhóm Tủ sách Tiếng Quê Hương, do Uyên Thao và Trần Phong Vũ điều hành đã in và sắp phát hành, một tập sách nhan đề Thao thức cùng Quê Hương, một tập hợp khoảng 200 bài viết của Bùi Tín trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2018 về tình hình đất nước, như đánh dấu chặng cuối đời của một người cầm bút.

Phải chăng chữ Thao Thức, một tựa đề nhiều phần do Tủ sách Tiếng Quê Hương đặt, nói lên trọn vẹn tâm trạng cuối đời của ông nhà báo Bùi Tín? Hy vọng là như vậy.

Tuy nhiên, có một điều chưa lý giải được một cách minh bạch là giới truyền thông nói chung, khi liệt kê các tác phẩm của Bùi Tín, thường kể “những” tác phẩm của Bùi Tin, nhưng vỏn vẹn chỉ có hai cuốn Hoa Xuyên Tuyết (nxb Nhân Quyền, 1991) và Mặt Thật (nxb Saigon Press, 1993).

Ông Ngô Nhân Dụng trong một bài báo nhan đề, Sau Bùi Tín, Tô Hải, lớp sóng mới vẫn đang lên, cũng đã viết một cách hăng say như sau:

“Những cuốn sách của Bùi Tín như Hoa Xuyên Tuyết (1991), Mặt Thật (1995) [thật ra là 1991 và 1993 — NVL] và hàng ngàn bài báo, bài phát biểu sẽ là những chứng cớ cho một giai đoạn lịch sử nước ta. Ba tháng trước, dù thân thể đã lâm trọng bệnh, ông đã góp mặt lần cuối cùng với tổ chức Họp Mặt Dân Chủ trong cuộc hội thảo tại thành phố Stuggart, nước Đức.”

Không lẽ nào bao nhiêu nhà báo, bao nhiêu đài truyền hình, có thể nói hầu như tất cả không trừ ai, “đều quên” không nhắc tới hai cuốn sách được dịch ra tiếng Anh, rồi dịch sang tiếng Pháp của Bùi Tín?

Viết bài này, tôi muốn tìm hiểu cuốn “Hoa Xuyên Tuyết” bằng cách nào được dịch thành: “Following Hồ Chí Minh, The Memoirs of a North Vietnamese colonel”. (Theo chân Bác, Hồi ký của một Đại tá Bắc Việt — TCB) do bà Judy Stowe, Trưởng ban Việt ngữ đài BBC, đã qua đời năm 2007 và ông Đỗ Văn, biên tập viên BBC, chuyển dịch từ cuốn “Hoa Xuyên Tuyết”. Lời đề tựa sách tiếng Anh của giáo sư Carlyle A. Thayer; cuốn sách xuất bản năm 1995. May mắn, ông Đỗ Văn, cựu Biên Tập Viên đài BBC, là người duy nhất có thể giúp giải thích vấn đề “dịch sách” này.

Và cuốn thứ hai được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp. Và một lần nữa được đổi tên sách thành “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime” . (Bộ mặt thật của chế độ, BMTCCĐ). Trong phần ghi chú của lần xuất bản tại Pháp có ghi rõ nguyên văn như sau:

“Cet ouvrage a été publié à Londres en 1995 par Hurst & Company sous le titre original: “Following Ho Chi Minh. The memoirs of a North Vietnamese Colonel”.

(Tác phẩm này đã được C Hurst & Co Publishers Ltd (Jan. 31 1994), do NXB Hurst & Company xuất bản tại Luân Đôn mà nhan đề nguyên thủy của cuốn sách là: ‘Theo Chân Bác. Hồi ký của Đại tá Bắc Việt’.)

Và còn rõ hơn nữa, đầu trang 17, trong lời đề tựa cho cuốn sách Bộ Mặt thật của chế độ, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”, in ở Pháp, chính ông Bùi Tin có tiết lộ là:

“Une première version de cet ouvrage a été publiée en Vietnamien, aux États-Unis en décembre 1991.”

(Ấn bản đầu tiên của tác phẩm này đã được xuất bản bằng tiếng Việt, tại Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 1991.)

Dù nhìn nhận đã có một bản bằng tiếng Việt, xuất bản tại Mỹ vào tháng 12 năm 1991, thật ra lời gửi kính tặng cuốn sách của Bùi Tín ghi là: Paris, Mùa thu 1991, nhưng rất tiếc, tác giả không cho biết tên cuốn sách. Mặc dầu vậy, người ta có thể đi đến kết luận đó là cuốn Hoa Xuyên Tuyết được xuất bản năm 1991. Hoa Xuyên Tuyết là cuốn sách xuất bản đầu tiên của tác giả ở hải ngoại.

Bởi vì cũng chính Bùi Tín trong cuốn Hoa Xuyên Tuyết ghi “Cuốn sách tôi đang viết đây là cuốn thứ chín, là cuốn sách tôi viết với nhiều đắn đo suy nghĩ nhất.” (Thành Tín, Hoa Xuyên Tuyết, nxb Nhân Quyền, 1991, trang 40).

Như thế đã là rõ ràng. Hoa Xuyên Tuyết (HXT) là cuốn sách thứ 9 của tác giả. 8 cuốn đầu tiên của tác giả viết khi còn ở trong nước mà tác giả nhìn nhận là những cuốn sách chỉ có mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản. Cuốn sách HXT là cuốn đầu tiên xuất bản ở hải ngoại. Sau đó được dịch sang tiếng Anh với nhan đề mới “Theo Chân Bác”. Rồi một lần nữa được chuyển dịch sang tiếng Pháp với một nhan đề thứ ba. “Bộ mặt thật của chế độ”.

Sửa chữa gì và thêm vào đã là quan trọng, vì có thể đánh dấu những bước chuyển biến trong những suy nghĩ của tác giả. Năm tháng xuất bản bằng hai thứ tiếng Anh đầu năm 1994 rồi tiếng Pháp 1999 có sửa chữa cũng đáng để tâm như một cột mốc thời gian đánh dấu việc cầm bút của tác giả như thế nào.

Nhưng việc tác giả thay đổi cả cái nhan đề sách từ Hoa Xuyên Tuyết thành Theo Chân Bác rồi thành Bộ Mặt thật của chế độ là một vấn đề khá quan trọng ảnh hưởng tới danh tiếng cũng như uy tín của tác giả. Nó có thể hủy hoại tất cả thiện chí, tất cả những nỗ lực của ông muốn thay đổi cũng như dân chủ hóa ở Việt Nam.

Và quan trọng hơn cả, nó hủy hoại niềm tin của độc giả đối với tác giả. Điều này thật khó lường hết được.

Có lẽ người ta có thể bỏ qua mọi tìm kiếm đánh giá, khen chê Bùi Tín. Nhưng nay trọng tâm bài này chỉ nhằm đặt vấn đề tại sao Hoa Xuyên Tuyết được dịch thành Theo Chân Bác mà thực sự nội dung hai cuốn sách hoàn toàn khác biệt. Trách nhiệm của Bùi Tín, Đỗ Văn và Judy Stowe là ở chỗ này. Tiếp đến tại sao Theo Chân Bác khi được dịch sang tiếng Pháp lại đổi thành Bộ Mặt thật của chế độ. Hai cuốn nay cùng một nội dung, nhưng tên đề tựa rất chọi nhau, một bên có thể là ca tụng chế độ, bên kia lại trở thành tố cáo chế độ.

Để cho thấy sự khác biệt giữa Theo Chân BácBộ Mặt thật của chế độ. Điều khác biệt là Bùi Tín đã viết thêm một lời nói đầu cho cuốn “Bộ Mặt thật của chế độ” từ trang 9-17. Ở đây, ông thẳng thừng lên án chế độ cộng sản đưa đất nước tới chỗ lầm than, đói nghèo. Ông viết,

“Người Việt Nam xấu hổ khi so sánh tình trạng chậm tiến với các nước láng giềng.”

Ông cũng lên án thẳng thừng các cấp lãnh đạo Đảng tiếp nối Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp:

“Chúng ta đang chứng kiến một sự chuyển tiếp không thể tránh được từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Đây là những người cứng rắn nhất, giáo điều nhất, bảo thủ nhất trong đám lãnh đạo – như Lê Duẩn, Lê Dức Thọ, Trường Chinh hay Nguyễn Văn Linh – cũng đã rời bỏ sân khấu chính trị.”

(Bùi Tin, Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime, trang 15-16)

Ông cũng bồi thêm những tên làm báo cực đoạn tồi tệ như Đào Duy Tùng, Đoàn Khuê, Nguyễn Hà Phan cũng như Nguyễn Đức Bình và Phạm Thế Duyệt. Tóm lại hai cuốn sách giống nhau về nội dung. Nhưng thay đổi tên gọi Và để hợp thức hóa tên gọi ấy, ông đã viết thêm một bài Lời Nói đầu lên án chế độ.

Tuy nhiên, ba tên tuổi vẫn được miễn trừ là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng. Ông không thể làm như thế được. Như thế là gian lận. Như thế là không tự trọng chính mình, đánh lừa người đọc.

Vấn đề trung thực của ngòi bút trở thành lý lẽ sống còn cho sự nghiệp cầm bút của ông nếu người ta biết được ông đã thiếu trung thực, có sự lắt léo, có sự che dấu hay đánh lừa dư luận theo một thứ chủ nghĩa cơ hội, tùy thời. Thật bất hạnh thay cho ông nếu đó là sự thật cũng như bất hạnh cho cả những người đã quý mến, trân trọng đọc ông trong nhiều năm, trong đó có tôi.

Cộng chung các tác phẩm của Bùi Tín lần lượt theo năm xuất bản là: Hoa Xuyên Tuyết, 1992. Mặt Thật, 1993. Following Ho Chi Minh. The memoirs of a North Vietnamese Colone, 1994.  Về ba ông Thánh, Sydney tháng 9-1995. Mây mù Thế kỷ, 1998. Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime, 1999, From Enemy to Friend: A North Vietnamese Perspective on the War (do Nguyễn Ngọc Bích dịch từ cuốn Mây mù Thế kỷ), 2002, và gần đây hơn là Tâm tình với tuổi trẻ Việt Nam, 2006, Thao thức cùng Quê Hương, 2018.

Một vài nhận xét chung về Bùi Tín

Bùi Tín là một trong những người ở một vị thế thuận lợi hơn ai cả trên dưới 60 năm trở lại đây theo nghĩa có mặt, theo nghĩa nhập cuộc và theo nghĩa nhân chứng lịch sử. Đã thế, ông là người hiếm hoi được đặt ở một vị thế mà người Tây Phương thường gọi là: “Il est toujours à la bonne place, au bon moment.” (Một người luôn ở vị thế đúng chỗ, đúng thời) một nhà báo với chức vụ phó chủ nhiệm tờ Nhân Dân và đại tá trong quân đội Bắc Việt. 37 năm trong quân ngũ và 43 năm có chân trong đảng. Ông lại chịu khó tiếp xúc, chịu khó lặn lội, xông xáo những nơi cần có mặt. Cũng đến 20 chục lần, ông theo chân các phái đoàn thăm các nước Đông Âu. Có chân trong phái đoàn 4 bên đóng ở Tân Sơn Nhứt. Tự cho mình là người có chức phận lớn hơn cả trong việc chứng kiến việc đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh. Khi sang đến bên Pháp thì liên lạc với Nguyễn Gia Kiểng, nhóm Thông Luận với các tờ báo Pháp như Le Point, L’humanité rồi BBC mà ông kể ra trong cuốn Hoa Xuyên Tuyết. Lần đầu tiên sang Mỹ thì trú ngụ ở nhà của Stanley Karnow và được dẫn đi khắp đó đây, gặp đủ loại người.

Quả thực cũng ít ai có được cơ hội có mặt đúng chỗ đúng thời như ông. Xét về mặt chuyên môn thì ông quả thực ông là một người cầm bút, bình luận có tầm cỡ quốc tế.

Và cũng một lẽ ấy, ông có thể có một ưu thế để có được nhiều thông tin đáng tin cậy nhất xuất phát từ quyền lực cao nhất trong nước. Một loại thông tin mà những người bất đồng chính kiến khác như Tô Hải, Trần Đĩnh không thể có được.

Nhưng những nguồn tin ở dạng thô ấy lúc đầu có thể là những tiết lộ hiếm quý. Sau gần 30 chục năm, những người lãnh đạo cao cấp cùng thời với ông như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt lần lượt ra đi. Nguồn vốn ấy cạn dần.

Cái lợi thế lúc đầu như đúng người, đúng chỗ, đúng thời, sau này không còn nữa!

Tuy nhiên, ông là người cầm bút kỳ cựu và liên tục nhất trước 1975 và sau 1975 với nhiều chặng đường uẩn khúc, nhiều chuyển biến tư tưởng từng bước một đã tạo ra những dư luận, những đồng thuận cũng như những tranh cãi và mâu thuẫn giữa các nhóm người Việt cũng như những người còn ở lại trong nước.

Hầu như ngòi bút của ông khá biệt lập không dính dáng liên quan gì đến các Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm các năm 1966-1968, có thể vì ông còn trẻ. Ông cũng không chịu xếp hàng chung với các nhóm nhà văn, nhà báo cuối thập niên 80; các năm từ 1986-1989, được coi là Cao trào phản kháng tại Việt Nam với những tên tuổi như Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyển Huy Thiệp, Nguyên Ngọc, Lưu Quang Vũ, v.v..

Ông cũng cho thấy, ông không có liên quan gì đến những cao trào Phản kháng từ miền Nam như Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, và nhiều người khác.

Nhưng ngay tại Hà Nội, trong những năm có vụ án “xét lại chống đảng” với nhiều người bị đi tù như Hoàng Minh Chính, tướng Đặng Kim Giang, Nguyễn Kiến Giang, Vũ Đình Huỳnh và con là Vũ Thư Hiên, hình như ông vẫn đứng ngoài cuộc vì còn trung thành với Đảng.

Sự ngoài cuộc ấy sau này tôi cũng nhận thức được; giữa ông Bùi Tín và nhà văn Vũ Thư Hiên hình như họ có một khoảng cách xa. Xem ra ông là người tranh đấu độc hành. Sự liên kết của ông nếu có là phần lớn nhằm vào các nhân vật chính trị có tiếng tăm của ngoại quốc, của người Việt hải ngoại, của các báo chí quốc tế, của các đài BBC, Radio-France International, Voix de l’Amérique, RFA, VOA. Đó là những thứ đem lại uy tín và lợi thế cho tiếng nói của ông. Nó manh nha một thứ chủ nghĩa cơ hội.

Sự chuyển biến tiệm tiến trong suy nghĩ của ông cũng có thể tạo ra những mối nghi ngờ cũng như sự dè dặt, ngay cả sự mất kiên nhẫn gán ghép vội vàng cho ông. Ông ở thế tiến thối lưỡng nan và nằm kẹt giữa hai lằn đạn. Theo đó, những điều nhận xét về nhiều mặt có thể đúng mà cũng có thể không đúng.

Căn cứ vào các bài bình luận trên báo của ông cũng như sách xuất bản của ông từ lúc còn là người của đảng đến khi ra khỏi đảng và sinh sống ở nước ngoài để nhận diện ra con người thật của Bùi Tín qua cuốn sách mà theo tôi là quan trọng nhất, Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel hoặc cuốn Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime .

Sự quan trọng của hai cuốn sách này ở chỗ nó bộc lộ tính chất con người thực của Bùi Tín. Và nếu ai đã không có cơ hội đọc chúng thì sự hiểu biết về con người Bùi Tín có thể còn thiếu sót và tệ hơn nữa là có thể hiểu sai con người Bùi Tín.

Nhưng nói chung, người ta phải nhìn nhận là mức độ phản tỉnh hay phản kháng là tùy theo mỗi người, tùy theo mỗi hoàn cảnh. Rõ rệt nhất là trường hợp Vũ Thư Hiên không phải trường hợp Bùi Tín cũng như ngược lại. Nếu ai đã có dịp quen biết và tiếp xúc với cả hai người thì sẽ thấy rõ: có một sự xa cách, một bức tường ngăn cách họ lại gần nhau. Tôi chưa có dịp được chứng kiến họ trao đổi với nhau một lần nào, dù khen hay chê. Cũng chưa có cơ hội thấy tên người này được nhắc trong các bài viết của người kia. Hy vọng là nhận xét của tôi là không đúng. Nhưng tôi cũng không có đủ tư cách để giải thích về sự cách biệt ấy, trừ khi chính họ nói ra.

Mặc dầu vậy, người ta vẫn có thể đưa ra những điểm chuẩn để từ đó giải thích về sự khác biệt. Chẳng hạn có phải là người của đảng hay không, có bị trù dập, thất sủng hay không, có bị đối xử bất công hay không, có là nạn nhân của cơ chế bị hất ra bên lề? Có bị cho ngồi chơi xơi nước, có bị phe cánh chèn ép hay không, có được dùng hay không được dùng?

Quan trọng hơn nữa có bị đi tù hay không, có bị tra hỏi hết năm này qua tháng nọ hay không?

Nghĩa là thật khó cho những ai được chế độ ưu đãi mà lại trở thành phản kháng! Có nghĩa là phản tỉnh và phản kháng là một quá trình phức tạp, qua kinh nghiệm bản thân mỗi người mà trong đó mưu cầu cho bản thân là yếu tố quan trọng nhất.

Để cho dễ hiểu hơn, thử lấy lai trường hợp các ông Vũ Thư Hiên và Bùi Tín để làm rõ lý do gì đã đưa các ông ấy đã đi đến thái dộ phản tỉnh, phán kháng và đào thoát.

Vũ Thư Hiên (VTH) vốn không là đảng viên đảng cộng sản. Ông bị bắt 9 năm tù vì một vụ án có tên là Xét lại chống Đảng rồi bị bắt bớ giam cầm. Vũ Thư Hiên nhìn nhận đây là tấn bi kịch lớn nhất xảy ra trong hàng ngũ đảng cộng sản, trong đó có gia đình ông và cá nhân ông. Ông cũng nhìn nhận là trong 9 năm đó, ông chỉ làm được một công việc có ích cho bản thân là “giã từ được ảo ảnh về một xã hội cộng sản được tô vẽ như thiên đường dưới thế.” (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Hồi ký, trang 16, Phần Tự Bạch.)

Nhưng tôi giả dụ nếu không mất mát quá nhiều cho bản thân và gia đình thì liệu Vũ Thư Hiên có thể nhận ra được ảo ảnh, một “thiên đường mù”, nhan đề một cuốn sách của Dương Thu Hương, hay không?

Liu Xiaobo (1955-2017), bị kết án 9 năm tù vào Noel 2009 và được giải Nobel về Hòa Bình năm 2010.

Những năm tháng tù đầy đã giúp rèn luyện tâm hồn và ý chí của người tù mạnh hơn, quyết tâm hơn. 9 năm bị tù đầy của VTH và Liu Xiaobo là vốn đấu tranh của những người chống đối lại chế độ.

Đi tù là một trong những yếu tố biến bạn thành thù. Vì thế, tiếng nói của VTH có tính xác định lập trường, minh bạch nên dễ được người ta chấp nhận. Quyển Đêm Giữa Ban Ngày của ông, đọc kỹ có thể được coi như một tác phẩm ngang tầm thế giới. Tác phẩm của ông có giá trị vì nó nói thay cho thế hệ của ông và những nạn nhân không còn còn có dịp để nói. Ông đại diện cho tiếng nói lương tâm và nỗi uất ức oan nghiệt của nhiều con người bị chế độ hành hạ cả tinh thần lẫn thể xác. Sự hưởng ứng và trân trọng của các độc giả hải ngoại và cả trong nước là một trả giá tương xứng cho những gì ông đã suy nghĩ và đã viết. Và đôi khi chỉ một lần viết như thế thôi cũng đã đủ và không cần nói thêm nữa.

Bùi Tín ở một thể loại và một đẳng cấp khác hẳn. Ông là người của đảng, tin đảng, phục tùng các cấp lãnh đạo trong hầu như suốt cả đời binh nghiệp và làm báo đảng của ông. Nếu không có khúc quanh lịch sử 1975, có thể ông đã vào ngồi trong Trung ương Đảng, có chức vụ cao và được tin dùng, có quan hệ lớn với những người như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, ngay cả Lê Duẩn.

Trước khi “phản tỉnh”, ông đã viết 8 cuốn sách về chiến tranh mà sau này, ông nhìn nhận một cách miễn cưỡng là sách thuộc loại tuyên truyền. Ông viết thú nhận:

“Trong cuộc đời cầm bút của tôi, tôi đã viết nhiều bài và đã cho xuất bản được 8 cuốn về chiến tranh và những hậu quả của nó. Tôi cũng đã cố gắng khách quan trong chứng mực có thể, nhưng nay nhìn lại, tôi nhìn nhận thì tôi thấy ít hay nhiều cũng chỉ là loại sách tuyên truyền. Trong khi cuốn sách này thì khác hẳn.”

(Bùi Tín, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”. Marc Bloch dịch, Jean Lacouture đề tựa, sách in ở Anh với nhan đề nguyên thủy: “Following Ho Chi Minh, The Memoirs of a North Vietnamese colonel”, trang 13)

Không phải chỉ thú nhận một lần và rải rác nhiều lần, ông thú nhận đã viết những bài trên tờ Nhân Dân và trên tờ Quân Đội Nhân Dân chỉ là: “Naturellement, il s’agissait d’articles de propagande.” (Bui Tin, Ibid., trang 116).

Nhưng trên thực tế thì Bùi Tín khó thuyết phục được mọi người trong câu chuyện vào tiếp thu miền Nam. Đến nỗi sau này, nhiều người có thể bỏ qua hết, quên hết, nhưng không quên được câu nói thời danh của ông. Ông đã tỏ ra hãnh diện đến ngạo ngược, khinh bỉ miền Nam khi gọi Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng là “nó”. Rồi phát biểu một câu sau nảy, ông hãnh diện tuyên bố nhiều lần trên các cơ quan truyền thông của đảng cộng sản khi trả lời ông Dương Văn Minh vào khoảng 12 giờ rưỡi trưa, sau khi ông Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh. Bài báo và những lời tuyên bố “lừng danh” của Bùi Tín nhan đề “Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử”.

Trong đó, Ông Bùi Tín thuật lại.

DVM, “Thưa quý ông, chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền.”

BT, “Các ông có gì mà bàn giao, không thể bàn giao khi trong tay ông không còn có gì.”

“Hôm nay là ngày vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đẫ kết thúc. Chỉ có người Mỹ là thua. Tất cả người Việt Nam ta là người chiến thắng.”

“Bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của mình.”

(Trích Tuyên bố của nhà báo Bùi Tín nhân ngày 30-4-2010. BBC 29-4-2010.)

Rất tiếc sau này, những kẻ thua cuộc và ngay cả những kẻ thắng cuộc đều chỉ nhớ câu thứ nhất của Bùi Tin. Và những câu sau chỉ được coi như là nói vuốt đuôi; nói mà không làm; và sự thực không phải như vậy. Làm sao Bùi Tín sau này rửa được mối hận ấy của dân quân miền Nam? Mặc dầu sau này ông bào chữa, lối nói gọi bằng thằng, bằng nó là một thói quen bắt buộc quen thuộc ở miền Bắc. Nói gì thì nói, cái văn hóa miền Nam đã không cho phép bất cứ ai được ăn nói xúc phạm như vậy.

Về hai cuốn Following Ho Chi Minh và La face cachée du régime

Về hai cuốn sách tiếng Anh và Pháp có thể nói rõ bản tiếng Pháp là bản dịch từ bảng tiếng Anh. Có thể có một hai chỗ sửa đổi của Bùi Tín theo như lời nói đầu cuốn sách tiếng Pháp.

Trong phần mở đầu của cuốn sách “1945-1999, Vietnam la face cachée du régime” (Bộ mặt thật của chế độ), người ta được biết thêm, cuốn này được Marc Bloch dịch ra tiếng Pháp từ bản tiếng Anh, cuốn “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel” (Theo Chân Bác), bản dịch của Hoa Xuyên Tuyết của Judy Stowe và Đỗ Văn.

Đọc xong “1945-1999, Vietnam la face cachée du régime” (Bộ mặt thật của chế độ) và so sánh với cuốn Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín, tôi không dấu nổi sự kinh ngạc! Nội dung Hoa Xuyên Tuyết và “1945-1999, Vietnam la face cachée du régime” (Bộ mặt che dấu của chế độ) hay “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel” (Theo Chân Bác) hoàn toàn khác nhau.

Làm thế nào mà Đỗ Văn và Judy Stowe của đài BBC có thể gọi là dịch “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel” từ cuốn Hoa Xuyên Tuyết? Có một điều gì đó bí ẩn không hiểu được! Có sự đồng tình giữa Đỗ Văn, Judy Stowe và Bùi Tín không?

So sánh một đoạn mở đầu trong Hoa Xuyên TuyếtFollowing Ho Chi Minh

“Đã 15 năm nay, từ những ngày Hòa Bình, nhiều nỗi đau giằng xé lòng tôi. Những nỗi đau không vật chất, không thể xác. Những nỗi đau ngấm sâu trong tâm linh. Không phải nỗi đau của sinh, lão, bệnh, tử. Dù cho lưỡi hái tử thần đã kể cổ tôi vào đêm 2-6-1989 ấy trong một cơn nhồi máu cơ tim cực hiểm.

Đó là nỗi đau của tinh thần, của trí tuệ. Lý tưởng xâm nhập tôi tự nhiên, sâu sắc ở tuổi 18. Tôi sống từ đó lạc quan, hừng hực cả thời tuổi trẻ. Vào bộ đội nhẹ tênh, phơi phới, chỉ một bộ quần áo cũ, một chiếc áo len nâu cụt tay, thủng một lỗ ở bên ngực. Đại đội trưởng ở dịch hậu( hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, Quảng Trị), khi chưa tới 19 tuổi, lo chuyện súng đạn, gạo, muối, lo truyện trinh sát đồn địch, dẫn anh em đi phục kích, chan hòa với đồng bào sống dọc những bãi cát, sung sướng với củ khoai luộc, ăn cùng cà muối của các bọ, các mạ( các bố, các mẹ); cũng có hồi cả đại đội bị sốt rét, bị bệnh ghẻ lở sâu quảng- những vết lở tròn sâu hoắm- mà vẫn vui hát náo nức trong các buổi lửa trại quân dân.”

(Thành Tín, Hoa Xuyên Tuyết, 1991, trang 1)

Và sau đây là “cái được gọi là bản dịch từ Hoa Xuyên Tuyết” do Đỗ Văn và Judy Stowe đảm trách và có nhan đề mới Theo Chân Bác .

“Chương 1. Cuộc cách mạng. Ngày 15 tháng 8, Hoàng đế Nhật Bản ra lệnh cho quân đội Nhật đầu hàng, chấm dứt chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Hai ngày sau, ngày 17, tôi có mặt sau buổi trưa trước cửa Nhà Hát lớn Hà Nội, một tòa nhà do người Pháp xây cất mà vẻ tráng lệ giống như kiến trúc của Nhà Hát lớn ở Paris. Các công chức chính phủ đã tụ tập tại nơi đây để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, một thủ tướng do Bảo Đại chỉ định vào tháng tư năm 1945. Một tháng trước, ngày mồng 9 tháng 3, quân đội Nhật đã loại bỏ chính quyền thuộc địa trên toàn Đông Dương và đã bắt giam các công chức cũng như binh lính pháp.

Nhưng bỗng chốc, vào giữa buổi mít tinh, một nhóm người có mang súng lục đã chiếm chiếc micro. Họ thay nhau tuyên bố chấm dứt chính quyền Bảo Đại và đưa ra một chính phủ mới. Đó là những cán bội Việt Minh, một phong trào được ông Hồ Chí Minh thành lập từ năm 1941 để cùng một lúc chống Nhật và chống Pháp để đem lại độc lập cho Việt Nam.. Người Nhật vừa đầu hàng và cuộc biểu dương là bước khởi đầu mà sau chúng ta gọi là cuộc Cách Mạng tháng 8.”

 

Revolution — Từ Những Nỗi Đau — Révolution. Nguồn: Bùi Tín/Thành Tín.

Xem hai đoạn văn trích dẫn ở trên cho thấy 2 cuốn sách “Theo Chân Bác”/“Bộ mặt thật của chế độ” không có dính dáng gì, dù chỉ một chữ, đến cuốn Hoa Xuyên Tuyết của tác giả.

Bùi Tín có đủ tư cách để viết một cuốn sách khác với Hoa Xuyên Tuyết mà không cần phải gian lận như vậy.

Tôi nhận ra có một sự gì đó không ổn. Nội dung hai cuốn sách bằng tiếng Việt là phê phán chế độ cộng sản về đủ mọi mặt, về đủ điều.

Nội dung trong cuốn sách bằng tiếng Anh và bằng tiếng Pháp thì trân trọng Hồ Chí Minh được coi như một anh hùng cứu nước. Và ông cũng đủ thời giờ biện giải hai chữ Bác Hồ mà ông coi như một truyền thống của người Việt. Đối với Võ Nguyên Giáp, ông coi như một người lãnh đạo cả một thế hệ giới thanh niên theo ông trong công cuộc giải phóng dân tộc.

Thời gian ba cuốn sách được — một bằng tiếng Việt, một bằng tiếng Anh và một bằng tiếng Pháp — chỉ cách nhau vài năm với cùng một tác giả?

Giả dụ hai cuốn sách tiếng Anh và tiếng Pháp này được dich sang tiếng Việt thì sự thể sẽ như thế nào? Tác giả có được yên hay bị bạn đọc hải ngoại bới móc, chửi ngày lẫn đêm?

Việc trước tiên, chúng ta thử so sánh một đoạn trong cuốn: “Theo Chân Bác” và cuốn dịch ra tiếng Pháp, “Bộ Mặt thật của chế độ”, có giống như Hoa Xuyên Tuyết hay không? Chương đầu cuốn sách nhan đề Revolution. Trong đó, tác giả muốn nhắc lại giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng tháng 8 diễn tiến như thế nào như nhiều sách sử bên phía cộng sản đã ghi chép như: niềm hân hoan, phấn khởi, niềm mơ ước đất nước được độc lập, thanh niên thiếu nữ với rừng cờ đỏ với những bộ quần áo đẹp nhất xuất hiện chung quanh Bờ Hồ.

Sau đây là bản dịch cuốn “Theo Chân Bác” sang tiếng Pháp với nhan đề mới, “Mặt thật của chế độ”.

“Hai tuần lễ sau, tôi cũng có mặt trong ngày 2 tháng 9 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Độc Lập tại Ba Đình. Nhiều dân chúng Hà Nội đã mặc những bộ quần áo đẹp nhất và mang theo cả gia đình. Những bộ âu phục với cà vạt của các công chức bên cạnh các cô gái trẻ ở ngoại ô ăn bận áo dài theo cổ truyền. Những bộ quần áo đen hoặc mầu nâu tương phản với những bộ quần áo đủ mầu sắc. Mọi người trên tay đều phất một lá cờ mầu đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng. Nhiều người còn cầm trên tay những bó hoa. Tôi cũng ở trong hàng ngũ các thanh niên trẻ Việt Minh, nhưng tôi đã tìm cách len lỏi để có thể tới gần được chiếc xe limousine màu đen của chủ tịch Hồ Chí Minh và tôi còn có thể sờ được vào cánh cửa xe trong khi chủ tịch Hồ Chí Minh rời khỏi nơi đây sau khi đã đọc bài diễn văn lịch sử.”

(Bùi Tín, Mặt thật của chế độ, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”, trang 20.)

Nguồn: Bùi Tín, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”, trang 20.

Rồi có thể đây là lần đầu tiên hiếm hoi và duy nhất, tác giả tiết lộ gia phả dòng họ một cách công khai. Cũng nhân dịp này, xin được phổ biến về gia thế của ông cho mọi người được biết cũng như thái độ của tác giả đối với ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng mà ông đã không dám đề cập công khai trong Hoa Xuyên TuyếtMặt Thật.

Bùi Tín đã nói khá đầy đủ về gia thế của ông. Bố Bùi Tín là Bùi Bằng Đoàn, đỗ đạt và làm quan với Triều Đình Huế, được tiếng là thanh liêm. Và ông cho rằng chính vì có tiếng thanh liêm này mà Hồ Chí Minh vào tháng 9, năm 1945 đã mời ông Bùi Bằng Đoàn tham gia chính phủ sau khi ông Hồ tuyên bố độc lập.

Thật ra việc mời một số người có tên trong chính phủ của Việt Minh chỉ là một hình thức tạo một thế đoàn kết quốc gia, quy tụ mọi đảng phái.

Sự giao hảo ấy đi đến chỗ là ông Bùi Bằng Đoàn theo ông Hồ lên Việt Bắc. Tuy nhiên, không thấy một sự đóng góp cụ thể nào giữa hai người. Ông Bùi Tín chỉ đưa ra một nhận xét duy nhất là,

“Les deux hommes qui s’estimaient en dépit de leurs différences idéologiques, se lièrent d’amitié et devint très proche. Il leur arrriva même d’échanges des poèmes.”
(Hai người quý trọng nhau mặc dầu có những khác biệt về ý thức hệ bằng một sự liên kết tình bạn và trở thành rất gần gũi nhau. Đi đến chỗ là cả hai đã trao đổi làm thơ phú.)

Và một trong những bài thơ mà HCM đã làm được ghi nhận ngay từ năm 1948, một trong những bài thơ hay nhất của ông Hồ. Năm 1955, khi ông Bùi Bằng Đoàn mất vì tai biến mạch máu não, nhà nước cộng sản dụ định làm quốc táng cho Bùi Bằng Đoàn tại Nghĩa trang Mai Địch bên cạnh những người anh hùng của chế độ. Nhưng thể theo nguyện vọng của người quá cố, ông đã được chôn ở chốn quê nhà, bên cạnh vợ ông, tại Liên Bạt, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

Đọc đoạn này cho thấy nếu không phải đây là thủ đoạn của ông Bùi Bằng Đoàn thì hẳn là thủ đoạn của ông Hồ. Ông Bùi Bằng Đoàn chỉ có giá trị “làm cảnh” dù HCM đã mời ông tham gia Ban cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết và chính phủ cách mạng đã cử ông làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt. Ông được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội, tham gia thành lập Hội liên hiệp quốc dân. Năm 1946, ông được cử làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cho ông Nguyễn Văn Tố.

Vai trò của ông Bùi Bằng Đoàn có khác chi với chức cố vấn của ông Bảo Đại sau này? Cũng có thể Bùi Tín xem chuyện HCM và cha ông đối đáp làm thơ là việc quan trọng hơn cả!

Ông cho biết gia đình ông cư ngụ tại số 221C, phố Khâm Thiên với những người hàng xóm sống vất vưởng qua ngày. Như ông đại tá về hưu làm nghề vá xe đạp. Một ông bác sĩ tốt nghiệp ở Paris, sống một mình, ngày ngày đi sách hai xô nước về để nấu nướng. Thành phố lúc nhúc những thành phần bất hảo như trộm cắp, móc túi, cờ bạc, gái điếm và nghiện hút. Nhưng tất cả mọi người đều ẩn nhẫn sống qua ngày.

13 tuổi, Bùi Tín theo cha vào Huế và học trường Khải Định. Ông thuộc một gia đình quan lại mà cha làm quan lớn trong Triều nhà Nguyễn nên gia đình ông gồm 10 anh em có cuộc sống dễ dãi với một tài xế, 2 phu kéo xe, 4 người giúp việc và một người nấu ăn, một người đi chợ. Cuộc sống xem ra dễ dãi nhưng theo ông, bố ông là một vị quan liêm khiết “cấm mọi cơ hội biếu xén quà cáp”. Trong hàng trăm vụ án ông phân xử, ông không hề chấp nhận một xu tiền hối lộ. Chính vì tiếng tăm thanh liêm như thế mà Hồ Chí Minh lên nắm chính quyền đã mời cha ông tham gia chính quyền cách mạng. Ông trích dẫn lá thư Hồ Chí Minh gửi cho ông Bùi Bằng Đoàn năm xưa:

“Thưa Ngài! Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe. Kính thư. Hồ Chí Minh”

(Bùi Tín, Ibid., trang 28)

Ông Bùi Bằng Đoàn nhận nhận chức vụ Thanh tra hành chánh với quyền hành rộng rãi và đã áp dụng nghiêm khắc các vụ tham nhũng hối mại quyền thế tại các tỉnh Vĩnh Phú và Hà Nam. Thời kháng chiến chuyển lên Việt Bắc, ông Bùi Bằng Đoàn lại có dịp gần gũi với ông Hồ hơn và có trao đổi làm thơ như đã nói ở trên.

Phần mẹ ông đã bị bắn chết trong một vụ càn quét của quân đội Pháp vào năm 1948. Cái chết của mẹ ông ám ảnh ông không rời.

Ở trang 37 của cuốn sách, Bùi Tin ca tụng Hồ Chí Minh như một người giản dị, có cuộc sống lương thiện. Ông yêu mến trẻ con và dễ dàng, thoải mái, tự nhiên trong các giao thiệp với các nhà báo cũng như các người bình thường. Vì thế, theo Bùi Tín:

“cực lực phản đối những ai cho rằng đó là cái tài đóng kịch của Hồ Chí Minh. Phải nhìn nhận rằng con người có văn hóa ấy đã đi khắp thế giới vẫn cho thấy một con người rất nhân bản.”

(Bùi Tín, Ibid., trang 37)

Nguồn: Bùi Tín/Marc Bloch, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”, trang 37

Ông cũng bênh vực cách thức người ta gọi ông Hồ bằng Bác. Ông cho rằng đó là điều tự nhiên đối với trẻ con và giới trẻ. Và đó là truyền thống của Việt Nam. Mặc dầu lúc đó ông Hồ mới 55 tuổi. Và điều đó phải chăng cũng chỉ là bắt chước trường hợp Stalin và Mao Trạch Đông. Và đó là những nhân vật anh hùng đã cứu vãn nhân loại khỏi ách Phát Xít và giúp cho hơn chục nước Đông Âu cũng như Việt Nam nổi dậy và dành độc lập.

Ông còn nhắc nhở làm sao quên được những câu thơ của Tố Hữu, nhà thơ chính thức của Đảng đã viết vào năm 1953, khi Stalin chết.

“…Yêu con yêu nước yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!
Ngày xưa khô héo quạnh hiu
Có người mới có ít nhiều vui tươi
Ngày xưa đói rách tơi bời
Có người mới có được nồi cơm no
Ngày xưa cùm kẹp dày vò
Có người mới có tự do tháng ngày
Ngày mai dân có ruộng cày
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
Ơn này nhớ để hai vai
Một vai ơn Bác một vai ơn Người…”

(Trích Tố Hữu, Đời đời nhớ Ông, Việt Bắc (1954))

Ông nhắc nhở là vào thời kỳ này, các thầy giáo còn dạy cho các học trò là chính nhờ Stalin mà các cháu có quần áo mặc cũng như đồ ăn. Và mặt các cháu sáng lên. Và chính Bùi Tín cũng nhìn nhận như sau,

“Je dois reconnaitre que je fus moi-même brisé de douleur lorsque j’appris sa mort.” (Tôi cũng phải nhìn nhận là chính tôi cảm thấy đau đớn khi nghe tin ông chết.)

(Bùi Tín, Ibid., trang 39)

Đọc đoạn trích dẫn trên, nhiều độc giả không khỏi ngạc nhiên với đôi chút ngỡ ngàng. Nhưng sự thật vào năm 1953 nó là như thế. Tác giả Trần Đĩnh trong cuốn sách Đèn Cù của ông có dịp viết lại là Tố Hữu với bài thơ Khóc Stalin. Tố Hữu đã bước lên sân khấu, để bức ảnh Stalin, đứng hồi lâu rồi bật khóc. Đó là cái khóc thật với sự đau đớn thật, của Bùi Tín cũng như của Tố Hữu khi Stalin chết; không phải họ đóng kịch.

Trần Đĩnh còn cho biết không phải chỉ mình Tố Hữu khóc mà chính HCM cũng khóc thật. Trong buổi lễ tưởng niệm, ngồi một hồi lâu thì HCM đứng lên vào một phòng. Trần Đỉnh thấy ông để quên bao thuốc lá nên vội mang vào phòng. Cảnh tượng mà Trần Đĩnh chứng kiến là cảnh HCM gục đầu khóc, mắt đỏ hoe, khóc thảm thiết.

Cho nên cái lòng trung của ông Hồ đối với Mao Trạch Đông và nhất là Stalin là quá rõ ràng, là vô bờ bến. Nhưng cũng vì thế, lòng trung đối với dân lại giảm đi.

Sự bưng bít đến tuyệt đối nên dưới mắt người dân, Stalin như một Đấng Cứu Thế tưởng cũng không có gì lạ. Và chúng ta sẽ hiểu được, tại sao dân Bắc Hàn đã khóc như cha chết, mẹ chết khi lãnh tụ của họ qua đời.

Nghĩ như thế mà chia sẻ được những giọt nước mắt của Bùi Tín khóc Stalin. Nhưng mặt khác nó để lộ ra cho thấy chế độ ấy đã bưng bít đến không có một thông tin nào khác, ngoài những thông tin đã được nhà nước loan tải.

Còn về Võ Nguyên Giáp, đây là những lời xưng tụng của Bùi Tín,

“Tướng Giáp là người đã đào tạo ra cả một thế hệ những sĩ quan trẻ. Ông dạy cho họ làm việc cực nhọc và làm gương cho họ một cuộc sống đơn giản và lương thiện.”

( Bùi Tín, Ibib., trang 40)

Ông cũng cho rằng thành quả chiến thắng trong chiến tranh làm do những chọn lựa chính trị đứng đắn và mở các cuộc hành quân với tư cách một bộ trưởng bộ Quốc Phòng và của vị tướng chỉ huy quân đội. Đó là hai vai trò thiết yếu đưa đến thành công. Ở đây, ông luôn luôn dùng chữ “chúng tôi” theo nghĩa ông là người trong cuộc.

Ông Bùi Tín có trích dẫn một câu chuyện sau đây và càng cho thấy tại sao ông quý mến tướng Võ Nguyên Giáp. Câu chuyện được kể khi tướng Giáp vào thăm Dinh Độc Lập. Một sĩ quan vào trình với tướng Giáp là đã thu được một chiếc đàn Piano của địch và họ đã gửi ngay chiếc đàn đó đến tư dinh tướng Giáp ở Hà Nội. Ông Bùi Tín kể rằng, chưa bao giờ ông thấy tướng Giáp nổi giận đến như thế, mắt trợn trừng cho rằng không thể chấp nhận được món bổng lộc ấy. Nếu ông nhận thì tất cả những binh lính tham chiến họ sẽ chờ đợi để nhận được cái gì.

Bùi Tín kết luận “ Sau khi câu chuyện ở trên xảy ra, tôi càng kính trọng tướng Giáp hơn nữa.” (Bùi Tín, Ibid., trang 129)

Ông cũng dành ít trang để nói về ông Thủ tướng PhạmVăn Đồng theo cách của ông. Xin tóm tắt trong vài dòng. Đối với Bùi Tín thì:

“Phạm Văn Đồng như nhiều cấp lãnh đạo khác được ông kính nể từ lâu rồi. Đó là môt con người có văn hóa và có một đời sống giản dị và gương mẫu. Ngoài chuyện đi ăn với vợ một tuần một lần vào thứ bảy trong tuần. Thì giờ còn lại, ông sống một mình. Ông ngồi làm việc, nghe đài phát thanh và đọc rất nhiều sách. Ông cũng thường đi dạo nhiều cả buổi sáng lẫn buổi chiều. Người con trai là nguồn an ủi duy nhất của ông.

Phạm Văn Đồng quả là một người trí thức và một nhà tư tưởng. Ông tận trung với đất nước và nói với một giọng điệu đây xúc cảm.”

(Bùi Tín, Ibid., trang 115-117.)

Ông Phạm văn Đồng là một vị Thủ tưởng lâu đời nhất. Nhưng ông không có quyền hành gì, ngay cả việc chọn lựa các bộ trưởng cũng như kế hoạch đều do ở trên quyết định cả. Nói đúng ra, ông cũng chỉ là một thứ bù nhìn. Trong một lần ông đã đã phát biểu:

“Tôi không thể làm gì được. Khi tôi nói điều gì thì chẳng một ai thèm nghe. Nếu tôi đề nghị một phó thủ tướng thì điều đó thật sự không xảy ra. Tôi cũng chẳng thể tự mình chọn lấy các bộ trưởng. Mọi quyết định đúng ra đều xuất phát từ Trung ương Đảng chứ không phải từ quyết định của văn phòng Thủ tướng.”

(Bùi Tín, Ibid., trang 118.)

Bằng chứng rõ ràng là khi viên thư ký riêng của ông Phạm văn Đồng, ông Việt Phương bị bắt về vụ án xét lại để điều tra. Ông Đồng hoàn toàn giữ im lặng.

Nhưng dưới mắt một người dân thường như tôi thì ở cấp chính quyền, người ta cần một thủ tướng lãnh đạo hay một người có văn hóa cao? Chính vì vậy, người ta mới hiểu tại sao ông Phạm văn Đồng ngồi cái ghế Thủ tướng lâu đến như vậy.

Phần dành cho Lê Duẩn đã được ông Bùi Tín bơi móc khá kỹ trong chương VII. Rénovation (Đổi Mới) Lê Duẩn có bao nhiêu căn nhà ở Hà Nội và những nơi khác. Nhưng câu chuyện mà ai ở Hà Nội cũng có nghe là vào năm 1985 Khi Lê Duẩn từ Moskva trở về Việt Nam. Tiếng là đi thăm viếng nước bạn, nhưng việc chính là đi du lịch và chữa bệnh. Đoàn tùy tùng của Lê Duẩn gồm 12 người thân cận và 16 phụ tá đi cùng Lê Duẩn. Ở phi trường Moskva, đoàn đã chở theo ba xe vận tải chở đồ cộng chung là 6 tấn thay vì 60 kí lô cho mỗi hành khách. Nước Nga đang trong thời kỳ đổi mới. Họ đã dạy cho Việt Nammột bài học. Họ đã cấm không cho phi cơ chở ông Tổng Bí Thư nước bạn được cất cánh vì lý do an ninh. Họ thừa biết trong đống hành lý 6 tấn gồm nhiều dụng cụ máy móc như máy bơm nước, máy may, bàn ủi, thuốc men, nhất là thuốc lá của Tây Âu. Đó là một cuộc chở hàng lậu để khỏi trả thuế và sẽ được tuồn về tiêu thụ ở Việt Nam. Cuối cùng thì máy bay chở Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã phải cất cánh trễ. Số hàng hóa được dỡ bỏ lại và chuyên chở bằng đường biển qua các hải cảng như Vladivostok hay Odessa. (Bùi Tín, Ibid., tóm tắt trang 256)

Câu chuyện những valise ngoại giao chở hàng lậu không lấy gì làm lạ. Trong một lần kiểm soát ở phi trường Moskva, người ta đã tìm thấy 8000 chiếc quần Jeans và 2000 chiếc đồng hồ.

Phần còn lại của cuốn sách là nói về cuộc chiến trước 1975 cũng như việc xâm chiếm Cam Bốt. Ba nhân vật bị ông lên án nặng nề là ông Nguyễn Văn Linh, ông Lê Đức Thọ và Lê Duẩn.

Đôi dòng kết luận

Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel by Bui Tin, Do Van (Translator), Judith A. Stowe (Translator), Carlyle A. Thayer (Contributor) – Hình giửa hai trang 52-53

Theo tôi, muốn hiểu rõ con người thật của Bùi Tín, có lẽ cần tìm đọc cuốn “Theo chân Bác” [Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel
by Bui Tin, Do Van (Translator), Judith A. Stowe (Translator), Carlyle A. Thayer (Contributor)].

Trong cuốn này, ông bộc lộ chân thực tấm lòng của ông mà theo đó cả đại gia đình ông, thuộc giới quan lại, khác biệt ý thức hệ với cộng sản, đã đồng lòng theo chân bước đường làm cách mạng của ông Hồ Chí Minh. Ông bày tỏ một sự tự hào không dấu diếm về điều ấy. Ông dành một địa vị không ai có được, coi ông Hồ như người anh hùng, đưa đến kết quả dành được độc lập với những người phụ tá sát cánh với ông như thủ tướng Phạm Văn Đồng, tướng Võ Nguyên Giáp.

Đó hầu như là một khẳng định không cần bàn cãi nữa. Tôi nghĩ ông đã bị nhồi sọ kỹ lắm đến gần như khờ khạo mới có thể tin tưởng rằng ông Hồ Chí Minh đã tin dùng Ông Bùi Bằng Đoàn trong chức vụ Thanh Tra đặc biệt? Đối với một vị vốn là Thượng Thư trong Triều đình An Nam trước đây nay được cho làm một chức vụ vô thưởng vô phạt thì có điều gì phải hãnh diện?

Ai cũng hiểu rằng vào thời kỳ đó, do áp lực mạnh của các đảng phái, Hồ Chí Minh đã phải cho thành lập chính phủ Liên Hiệp đồng thời để dành 70 ghế trong Quốc Hội cho các lãnh tụ của đảng phái quốc gia, trong đó Việt Nam Quốc Dân Đảng được 50 ghế và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, 20 ghế. Ngoài ra trong chính phủ Liên Hiệp thì ông Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch, ông Huỳnh Thúc Kháng coi bộ Nội Vụ. Nguyễn Tường Tam coi về Ngoại giao, Nghiêm Kế Tổ, Thứ trưởng Ngoại giao. Bảo Đại, cố Vấn, Gm Lê Hữu Từ cố vấn. (Xem thêm Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam Máu Lửa, trang 51-53)

Lẽ dĩ nhiên, ai cũng hiểu đây là những chức vụ chỉ có cái tên, còn mọi sự điều hành và quyết định đều do cán bộ cộng sản quyết định.

Và trong những chức vụ quan trọng ấy, chức vụ nào được dành cho ông Bùi Bằng Đoàn? Theo HCM lên Việt Bắc, có công trạng gì mà được Hồ Chí Minh định cho quốc táng và được chôn ở Nghĩa trang Mai Dịch?

Tôi nghĩ, mối liên hệ cha-con đã khiến ông Bùi Tín thổi phồng, phóng đại vai trò của cha ông một cách không thực!

Tôi miễn cưỡng phải viết bài này, viết về một người đã chết là do sự cẩu thả một cách ngu ngơ của giới truyền thông hải ngoại nói chung, ca ngợi người chết thì nhiều nhưng không một ai biết để cho thấy rõ về sự có mặt của hai cuốn, “Theo chân Bác” (Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel) và “Bộ Mặt thật của chế độ” (Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime).

Tôi cũng có cảm tưởng là tác giả đã tỏ ra không trung thực. Ông viết cuốn Hoa Xuyên Tuyết là để làm vừa lòng người Việt |Nam hải ngoại chăng? Nhưng nguyên nhân nào bắt buộc ông phải viết “Following Ho Chi Minh: The Memoirs of a North Vietnamese Colonel” (Theo Chân Bác) và coi đó chỉ là bản dịch từ Hoa Xuyên Tuyết? Tại sao “Theo chân Bác” không là một tác phẩm khác của tác giả, và chỉ viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp (Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime)?

Vai trò và trách nhiệm của hai “người dịch” sang tiếng Anh, ông Đỗ Văn và bà Judy Stowe — Chẳng lẽ khi dịch, cả hai không biết thực sự nội dung khác nhau giữa “Hoa Xuyên Tuyết” và “Theo chân Bác”?

Nguồn: Bùi Tín/Marc Bloch, “Vietnam, 1945-1999. La face cachée du régime”

Ai có thể trả lời cho nghi vấn này? Người còn lại duy nhất là ông Đỗ Văn? Người viết hy vọng là bài này tới tay ông Đỗ Văn vì bà Judy Stowe đã qua đời từ 13 tháng 9, 2007 ở London. Hy vọng được ông trả lời thắc mắc với tất cả bạn đọc. Có thật sự ông là người dịch Hoa Xuyên Tuyết ra tiếng Anh cùng với bà Judy Stowe không? Đâu là bản dịch chính thức của Hoa Xuyên Tuyết.

Người viết mong nhận được câu trả lời đồng thời làm sáng tỏ một nghi vấn mang tính toa rập, đống lõa, che dấu nếu không được giải thích rõ ràng.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Bài của tác giả. DCVOnline biên tập và minh họa.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/10/mot-mat-that-khac-cua-bui-tin/feed/ 0
Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Kono nhân dịp thăm Việt Nam http://dcvonline.net/2018/09/09/thu-gui-bo-truong-ngoai-giao-nhat-ban-kono-nhan-dip-tham-viet-nam/ http://dcvonline.net/2018/09/09/thu-gui-bo-truong-ngoai-giao-nhat-ban-kono-nhan-dip-tham-viet-nam/#respond Sun, 09 Sep 2018 04:00:10 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1534456 ]]> Brad Adams (HRW) | DCVOnline

Là nước viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam, và là một thị trường xuất cảng lớn cho hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, Nhật Bản ở vị trí độc đáo để khuyến khích chính phủ Việt Nam cải thiện hồ sơ quyền con người tại quốc gia này.

Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Taro Kono phát biểu trong cuộc họp bộ trưởng ASEAN-Nhật Bản tại cuộc họp của Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 50 tại Manila hôm Chủ nhật.  Nguồn: AP | The Japan Times AUG 6, 2017

Ngày 9 tháng 9 năm 2018

Kính thưa Bộ trưởng Ngoại giao Kono:

Chúng tôi viết thư này để yêu cầu ông nêu mối quan tâm nguy cấp về nhân quyền trong chuyến thăm và sắp gặp Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hà Nội vào ngày 13 tháng 9. Chúng tôi mong ông công khai nhấn mạnh đến những trường hợp của tù nhân chính trị và khẳng định rằng Quan hệ Nhật – Việt sẽ cần có những cải tiến về hồ sơ nhân quyền của Việt Nam.

Như ông đã biết, chính phủ Việt Nam có một hồ sơ đàn áp nhân quyền rất lớn. Việt Nam hạn chế các quyền tự do căn bản như phát biểu tư tưởng, lập hội, hội họp và tôn giáo. Chính quyền Việt Nam là chủ và kiểm soát tất cả các phương tiện truyền thông trong nước và kiểm duyệt Internet. Đảng Cộng sản Việt Nam (CPV) độc quyền lãnh đạo tất cả các tổ chức công và sử dụng chúng để duy trì quyền lực của đảng. Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 1954, đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ cho phép bầu cử tự do và công bằng. Không có những tiến trình dân chủ thực sự ở Việt Nam; Quốc hội ở đó gần như hoàn toàn gồm các đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam được chính đảng đó lựa chọn. Những tòa án và tất cả các bộ đều thuộc quyền kiểm soát của CPV. Các tổ chức công đoàn độc lập bị cấm và các tổ chức dân sự, các nhóm tôn giáo và xã hội dân sự bị quy định chặt chẽ.

Là nước viện trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam, và là một thị trường xuất cảng lớn cho hàng hóa sản xuất tại Việt Nam, Nhật Bản ở vị trí độc đáo để khuyến khích chính phủ Việt Nam cải thiện hồ sơ quyền con người tại quốc gia này.

Ông có thể nói đến một số vấn đề cụ thể về nhân quyền trong chuyến thăm Việt Nam lần này, kể cả những giới hạn quyền tự do ngôn luận, hội họp, hạn chế sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng, bắt giam tù nhân chính trị và vi phạm quyền lao động. Chúng tôi phác thảo các đề đó trong phần phụ lục dưới lá thư này.

Chúng tôi hết sức yêu cầu ông nêu cao vấn đề quyền con người trong cuộc thảo luận với Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và gây áp lực với chính phủ Việt Nam để họ bắt đầu những đổi mới tôn trọng nhân quyền. Nhiều người hoạt động nhân quyền ở Việt Nam đang mong đợi Nhật Bản sẽ xác nhận các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế mà giới hoạt động ở đó đang chấp nhận rủi ro lớn để quảng bá. Chúng tôi kêu gọi ông xác nhận rằng Nhật Bản ủng hộ những người hoạt động nhân quyền can đảm của Việt Nam, và công chúng nói chung, trong cuộc đấu tranh của họ để đòi chính phủ Việt Nam tôn trọng những quyền tự do căn bản.

Chúng tôi cũng yêu cầu ông nói rõ ràng và công khai với chính phủ Việt Nam rằng nếu hồ sơ nhân quyền của họ không bắt đầu cải thiện, Nhật Bản sẽ xét lại những khoản viện trợ tài chính cho Việt Nam cũng như quan hệ kinh tế, quân sự và an ninh với quóc gia này.

Cảm ơn sự quan tâm của ông và chúng tôi mong muốn được thảo luận thêm về các vấn đề này với nhân viên của ông.

Trân trọng,

Brad Adams
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Letter to Foreign Minister of Japan Kono on Vietnam visit | Brad Adams | HRW, September 9, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/09/thu-gui-bo-truong-ngoai-giao-nhat-ban-kono-nhan-dip-tham-viet-nam/feed/ 0
Tuyên truyền cho Đặc khu http://dcvonline.net/2018/09/07/tuyen-truyen-cho-dac-khu/ http://dcvonline.net/2018/09/07/tuyen-truyen-cho-dac-khu/#respond Fri, 07 Sep 2018 04:00:56 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1531301 ]]> DCVOnline

Một tài liệu của chính quyền nước CHXHCN Việt Nam dùng để tuyên truyền cho dự thảo luật về Đặc khu Kinh tế.

DCVOnline | Dưới đây là một tài liệu của Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành để giải thích về những đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Tài liệu tuyên truyền này còn nhằm dẫn dư luận quần chúng không nên biểu tình bày tỏ chính kiến (chống lại việc thanh lập những khu kinh tế đặc biệt) và nên tham khảo thông tin với báo đài của nhà nước cùng kêu gọi người dân “tin tưởng vào Đảng — Nhà nước”.

Nguồn: Chính quyền nước CHXHCN Việt Nam

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Facebook | Châu Kỳ | September 7, 2018.

]]>
http://dcvonline.net/2018/09/07/tuyen-truyen-cho-dac-khu/feed/ 0
Đặc khu kinh tế của Việt Nam bị đẩy lùi vì những cuộc biểu tình chống Trung Quốc http://dcvonline.net/2018/09/06/dac-khu-kinh-te-cua-viet-nam-bi-day-lui-vi-nhung-cuoc-bieu-tinh-chong-trung-quoc/ Thu, 06 Sep 2018 04:00:38 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1529806 ]]> Atsushi Tomiyama | DCVOnline

Chính phủ Việt Nam Cộng sản nói chính sách về Đặc khu Kinh tế không ưu đãi Bắc Kinh, nhưng mối quan tâm của công chúng ngày càng tăng. Cảnh sát đã giải tán một cuộc biểu tình tại Hà Nội vào tháng 6 về dự thảo luật đặc khu kinh tế, được coi là ưu đãi Trung Quốc. © Reuters

Nguồn: YouTube

HÀ NỘI | Kế hoạch mở ba đặc khu kinh tế đầu tiên của chính phủ Việt Nam đã bị đình trệ; sớm nhất đến năm sau chúng mới có thể bắt đầu hoạt động vì các cuộc biểu tình lớn của người dân lo ngại vì một loạt các doanh nghiệp Trung Quốc đang tràn vào Việt Nam.

Đầu tháng 6, các cuộc biểu tình bùng nổ khắp cả nước, kể cả ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều nhà máy và cửa hàng bị phá hủy, và ít nhất 1.000 người đã bị bắt — đây một điều bất thường thường ở Việt Nam vì lực lượng an ninh công cộng theo dõi công chúng thường xuyên [Một nhóm nào đó trong đảng Cộng sản đã hậu thuẫn cho những cuộc biểu tình này. — DCVOnline]. Quốc hiiji Việt Nam phản ứng bằng cách trì hoãn việc thảo luận và bỏ phiếu về luật lệ liên quan đến các đặc khu kinh tế hồi tháng 6, và gần đây đã quyết định dời vấn đề này lại một lần nữa trong khóa tháng Mười.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết:

“Không một từ nào nói về Trung Quốc trong dự thảo luật về đắc khu. Một số người cố tình đưa ra ý tưởng về mối đe dọa.”

Tuyên bố thẳng thắn bất thường về Trung Quốc này, một chủ đề mà các chính khách Việt Nam có khuynh hướng tránh né, nhằm mục đích dập tắt tình trạng bất ổn trog quần chúng.

Năm 2013, Việt Nam chọn Quảng Ninh – một tỉnh ven biển phía đông Hà Nội giáp với Trung Quốc – cũng như những trung tâm nghỉ mát ở tỉnh Khánh Hòa và đảo Phú Quốc là nơi sẽ trở thành đặc khu kinh tế. Những đặc khu này được thành lập để thu hút đầu tư nước ngoài nằng những lợi ích như được quyền sử dụng đất đến 99 năm, luật lệ dễ dãi về hoạt động của những sòng bạc và các thủ tục pháp lý được sắp xếp nhanh chóng. Việt Nam đón nhận mô hình đặc khu kinh tế muộn hơn các nước châu Á khác.

Đằng sau mối quan tâm của công chúng là ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trong nước. Năm ngoái, đầu tư trực tiếp của các công ty Trung Quốc vào Việt Nam lên đến 1,4 tỷ USD, gấp năm lần con số năm 2012. Số lhasch du lịch từ Trung Quốc tăng gấp ba lần trong khoảng thời gian đó lên đến khoảng 4 triệu người. Tại các khu nghỉ mát như Đà Nẵng, Nha Trang và Phú Quốc, người Trung Quốc đã đến mua bất động sản như mua tôm tươi, với các khu phố Tàu mới thanh lập ở một số khu vực.

Các nước láng giềng của Việt Nam như Campuchia và Lào cũng đang ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc trong các lĩnh vực như phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư trực tiếp. Nhưng nhiều người Việt Nam không tin tưởng vào Trung Quốc, hai nước đã đổ máu trong một cuộc chiến biên giới năm 1979 và có những xung đột vũ trang tiếp theo trong những năm 1970 và 80, và hai nước vẫn đang đối phó với những căng thẳng trên các vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ Biển Đông.

Theo chính phủ Việt Nam, kế hoạch đặc khu kinh tế được đưa ra để thu hút các giới đầu tư từ bất cứ nơi nào trên thế giới và không cố ý ưu đãi Trung Quốc. Mặc dù những điều khoản cho sử dụng đất 99 năm của dự luật gây ra sự phản đối chỉ trích trong công chúng, những luật lệ hiện hành đã cho phép giới đầu tư nước ngoài thuê đất lên đến 70 năm.

Nhưng ba địa điểm được chọn lập đặc khu kinh tế đàn có dân số Trung Quốc tăng nhanh nhất ở Việt Nam, và tất cả đều có tầm quan trọng chiến lược về phương diện quốc phòng. Khánh Hòa là tỉnh có Vịnh Cam Ranh, một địa điểm biển quan trọng có các cơ sở quân sự lớn. Về vấn đề này, một nguồn trong chính phủ cho hay,

“Ý kiến [về đặc khu kinh tế] cũng khác nhau ngay cả trong giới nhà lãnh đạo Việt Nam.”


Nguồn: VOA Express (VOA Tiếng Việt)

Tuy nhiên, khả năng vẫn có là một hay nhiều người trong đảng đã khuyến khích và hậu thuẫn cho những cuộc biểu tình hồi tháng Sáu vì lý do chính trị. Nơi có các cuộc biểu tình ác liệt nhất là Bình Thuận, một tỉnh vùng biển phía đông Thành phố Hồ Chí Minh; ở đây không có khu kinh tế đặc biệt nào được quy hoạch. Một số tin địa phương cho rằng những người đứng đằng sau những vụ bạo động đã được trả tiền.

© 2018 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Vietnam’s economic zones derailed by anti-China protests | ATSUSHI TOMIYAMA | Nikkei ngày 3 tháng 9 năm 2018.

]]>
Sự cứu rỗi cuối cùng http://dcvonline.net/2018/09/05/su%cc%a3-cuu-ro%cc%83i-cuoi-cung/ Wed, 05 Sep 2018 04:00:12 +0000 http://dcvwp.trstudios.net/?p=1516256 ]]> Dương Thu Hương

Nhu cầu được cứu rỗi có lẽ là nhu cầu sớm nhất của nhân loại. Nó xuất hiện cùng lúc với con người đầu tiên đi bằng hai chân, lưng thẳng đứng, quyết định rời bỏ cánh rừng để tiến về chân trời phía trước.

Dương Thu Hương tại Hội chợ sách Paris năm 2014. Nguồn: Ertezoute

Chân trời hoang vắng kia chính là định mệnh của loài người, vừa cám dỗ vừa hàm chứa hiểm nguy, đem lại cùng một lần hy vọng và lo âu, say đắm và khắc khoải. Chính bởi con đường dẫn đến tương lai bao giờ cũng được cắm mốc bởi những bất an, nên con người cần có sự cứu rỗi. Nhu cầu về sự cứu rỗi là một hằng số, kể từ con người đầu tiên, đầu tóc đầy chấy rận, che thân bằng lá rừng cho đến nhân loại ngày hôm nay, một năm tiêu thụ hàng chục triệu lọ thuốc nhuộm tóc và hàng chục vạn tấn quần jean.

Trên con đường dài đặc của lịch sử, tấm áo giáp tinh thần đầu tiên che chắn cho tâm hồn mong manh của con người chính là niềm tin. Một quyền năng tối cao phải ra đời để mang đến cho họ sức mạnh đặng có thể vượt qua mọi thử thách, đứng vững trước những chân trời giông bão, trước những ngọn sóng thần, những hỏa diệm sơn, những bệnh dịch ma quái và những cuộc cạnh tranh sinh tồn khốc liệt. Nhưng vì đã có tháp Baben để con người chịu lời nguyền chia rẽ về ngôn ngữ nên phải có một thứ Baben khác để con người chịu lời nguyền thứ hai: Sự chia rẽ về niềm tin. Đấng Omnipussant xuất hiện dưới những gương mặt khác nhau, mặc những thứ trang phục khác nhau, đòi những món ăn khác nhau trong ngày lễ và sau rốt, ra những chỉ định khác nhau cho con chiên của họ. Vì những khác biệt này, sự cứu rỗi của nhân loại đã trở thành duyên cớ cho biết bao cuộc chiến tranh kinh khủng, tàn độc trong lịch sử.

Vì cớ gì Chúa của người Do Thái khác Chúa của người Thiên Chúa giáo, từ những dữ kiện nào, được ghi nhận vào năm tháng nào, và do ai chịu trách nhiệm về tính chân thật?…Dường như không có lời giải đáp. Vậy mà trong gần hai mươi thế kỉ, những cuộc tàn sát người Do Thái diễn ra không ngưng nghỉ cho đến tận ngày Giáo Hoàng Paul II chính thức nói lời đề nghị tha thứ trước toàn thể dân cư trên hành tinh.

Thêm nữa, dưới chỉ định nào của Jesus mà suốt mấy trăm năm những người Thiên Chúa giáo dồn những người theo đạo tin Lành lên các vùng núi trong một cuộc chiến tranh tàn khốc cho đến nỗi những giáo dân Tin Lành chỉ được quyền làm bánh mì một lần trong năm, chỉ được ăn bánh mới một ngày độc nhất trong 365 ngày. Nhiều thế kỉ đã trôi qua, nhưng ngày hội bánh mới vẫn còn và những ngôi nhà của người Tin Lành trên các vùng núi nước Pháp vẫn nguyên vẹn với những bức tường dày hơn cả tường của các pháo đài xưa cũ.

Giờ đây, nếu nhìn lại quá khứ, liệu có lý thuyết nào xứng đáng để biện minh cho những tầng xác chết của giáo dân vùi dưới lòng đất, những con người cùng đeo thánh giá, cùng múc những nguồn cảm xúc tinh thần trong Kinh Phúc Âm và cùng quỳ gối trước một ông thánh bị đóng đinh?

Chỉ có thể lý giải: Mọi niềm tin đều có khả năng điên rồ và chúng đã dẫn tới sự điên rồ.

Có lẽ vì mệt mỏi với những cuộc chiến tranh tôn giáo, con người tìm nguồn cứu rỗi trong lý trí trong sự khôn ngoan, trong các loại biện chứng pháp, và sức mạnh thần kỳ của nền kĩ trị. Vào thế kỷ 18 và 19, đã có lúc con người của chủ nghĩa duy lý tin rằng họ là những Pha-ra-on cuối cùng của nhân loại và từ nay về sau, mọi chân trời đều khép kín, hạnh phúc đã vĩnh định trong các sơ đồ vẽ sẵn.

“Lý trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn con người tới cùng một vực sâu như đức tin, vì nó là thành phẩm của con người.” —  Dương Thu Hương

Từ năm 1968 cho tới gần đây, nhiều giáo sư triết học Pháp đã hớn hở tìm những vấn đề trong tương lai còn khiến dân chúng quan tâm. Nói cách khác, họ đặt từ cuối cùng cho nhân loại: Người thì tin rằng từ đó là Tiện Nghi, người gọi từ tối hậu là Sex…Họ tin chắc rằng sau cuộc cách mạng tình dục, nước Pháp sẽ không còn con bệnh tâm thần, và mọi cuộc cởi trói sẽ biến xã hội Pháp thành cõi thiên đường nơi hạ giới…

Nhưng ngày hôm nay, người ta có thể gặp những người mất thăng bằng tinh thần, những con bệnh tâm thần thực thụ ngay trên đường phố Paris, ấy là chưa kể đến những khu vực bidon-ville ở ngoại ô.

Như vậy là sự thông minh cũng có thể nhầm lẫn, cũng có thể hàm hồ. Những hy vọng thái quá ở sức mạnh của lý trí cũng dẫn đến một sự điên rồ khác. Sự điên rồ của nền kĩ trị, sức tàn phá không thể so sánh của nó trong việc hủy hoại môi sinh và sỉ nhục con người. Những vấn đề ấy không còn là mới mẻ.

Vậy chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa hai làn đạn chéo? Sự điên rồ của niềm tin và Sức mạnh phá hủy của sự duy lý?…Chúng ta sẽ sống ra sao đây giữa các tầng mây nhiễm phóng xa và tiếng gào thét của những phần tử cực đoan đạo Hồi?

Nhà văn cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ.” —  Dương Thu Hương

Liệu chúng ta có thể lấp đầy vực thẳm phân ly giữa niềm tin và lý trí? Câu hỏi này có vẻ như ngớ ngẩn bởi dù đức tin hay lý trí, chúng cũng đều xuất phát từ con người, cấu thành một phần bản thể Người.

Đức tin khi bị dẫn dắt bởi sự vị ngã sẽ dẫn nhân loại tới sự suy đồi, độc ác. Bởi lúc đó, dù là đấng Tối cao của người Do Thái, chúa Jesus, hay thánh Allah thì họ cũng chỉ là những cái cớ sang trọng để biện minh cho sự phóng chiếu bản năng gốc của con người. Nhân loại cần những ông thánh để hợp lý hóa sự tham tàn của họ, nhu cầu thù ghét tha nhân mà họ được nuôi dưỡng từ thuở hồng hoang khi phải tranh cướp con mồi. Bản năng xâm kích song sinh với bản năng tình dục, một kẻ dẫn đường không kém phần uy lực trong suốt cuộc tồn sinh.

Lý trí khi bị dẫn dắt bởi vị ngã cũng dẫn con người tới cùng một vực sâu như đức tin, vì nó là thành phẩm của con người, do con người sáng chế, nó không thể tránh khỏi vòng quay ma quỷ của dục vọng. Dục vọng được biểu tượng như một chiếc túi không có đáy. Với số đông, ý thức được sự vô bờ bến của dục vọng dường như quá khó khăn.

Nhưng có lẽ nhiệm vụ của những người cầm bút là ở nơi khó khăn này.

Họ cần phải thức tỉnh lương tâm con người. Bởi lương tâm thường mệt mỏi và luôn thiu thiu ngủ. Họ cần kêu gọi lòng từ ái, bởi trước những bản năng sâu xa nhất tồn tại vĩnh cửu nơi con người, lòng từ ái, sự hy sinh quả là điều rất đỗi mong manh.

Nếu như cả đức tin lẫn lý trí đã chứng minh khả năng tàn phá, hủy diệt với tất thảy những chiều kích của sự điên rồ, thì chỉ còn lại phẩm chất duy nhất có thể cứu rỗi chúng sinh, ấy là lòng tốt. Một mai đây, nếu hành tinh này còn có thể tồn tại được, chắc chắn là nhờ ơn phước của những con người từ ái, cao thượng, những người có Trái tim vàng, chứ không thể là các lãnh tụ tôn giáo hoặc các kĩ trị gia.

Để kết thúc bài viết này, tôi xin được mượn lời Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai,
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net


Nguồn: Bài do tác giả gởi đến DCVOnline. Đăng lần đầu ngày 1 thang 5, 2006.

Tác giả. Nguồn: OntheNet

Tác giả: Tên cũng là bút danh Dương Thu Hương, sinh năm 1947, hiện sống ở Pháp
Từ 1991, tiểu thuyết bị cấm ở Việt Nam và được gửi ra nước ngoài để in
Nhận huân chương chính phủ Pháp (1994)
Chung kết giải Prix Femina (1992, 1996)
Một số tiểu thuyết: Những thiên đường mù, Tiểu thuyết vô đề, Chốn vắng

]]>