Hòa giải, hòa hợp?

Nguyen Trung Dan

mediationMấy hôm nay cả Lề trái, Lề phải, trong ngoài nước đều nói đến hoà giải, hoà hợp. Nhiều bài viết, nhiều cách suy nghĩ, suy luận… Tôi xin kể lại một câu chuyện thật để xem chúng ta có một cách nhìn khác hay không?

Hòa giải là gì?
Hòa giải là gì?

Từ 1962, gia đình tôi có nhà cho thuê, người thuê nhà lúc ấy là một Đại uý VNCH tên Toàn. Hai vợ chồng người gốc miền Bắc (Nam Định), có 5 con, 3 trai 2 gái. Các con gái đẹp như tượng Đức Mẹ đồng trinh. Hai gia đình chúng tôi kết thân và quý trọng nhau cho dù qua nhiều lần trao đổi ông sĩ quan VNCH này biết chắc ba tôi là VC nằm vùng, hoạt đông trí vận.

Đến khi ba tôi bị bắt tù vào năm 1966, ông Toàn lên cấp bậc Trung tá, và 1972 là Đại tá phụ trách Quân Nhu toàn Quân Khu 1 lúc bấy giờ cho đến 1975. Có hai điều cần nói là Quân nhu VNCH chính như Tổng Cục Hậu Cần QKhu. Cả nước VNCH lúc ấy chỉ có 4 QK và QK 1 rất lớn bao gồm từ Vĩ tuyến 17 đến hết các tỉnh Miền Trung. Nghĩa là trong tay Đại tá Toàn này không thiếu một thứ gì và phương tiện quân vận như máy bay, tàu biển, xe ô tô không thứ gì là không có. Vậy mà cuộc sống gia đình ông rất thanh bạch, nhà thì ở Khu gia binh (đường Trần Phú ĐN), không có nhà riêng sau khi hết thuê nhà tôi.

Điều thứ hai cần kể là lúc ba tôi bị giam ở nhà lao Thừa Phủ Huế thì ông Đại tá này thường xuyên cấp máy bay trực thăng cho mẹ tôi ra thăm nuôi ba tôi. Khi ba tôi bị đưa ra xét xử công khai ở Toà án Quân sự mặt trận lưu động tại rạp hát Trưng Vương Đà Nẵng cuối năm 1967 thì Trung Tá Toàn đã hộc tốc chạy về nhà tôi chở Mẹ tôi lên chỗ xử và can thiệp cho Mẹ tôi được gặp ba tôi. Người sĩ quan VNCH này có sợ ảnh hưởng không? Tôi chắc rằng ở cương vị đó ông thừa sức hiểu những phiền toái sẽ đến với mình, nhưng tôi hiểu ông xem tình nghĩa bạn bè gặp lúc hoạn nạn lớn hơn việc phải đối phó sau này! Hoặc giả trong quân đội ấy, trong xã hội cũ ấy cái tình, cái nghĩa được trân trọng để không sợ những hậu quả trong giao tiếp, quan hệ.

Sau này khi tôi còn học năm cuối ở trường Đại học (năm 1976) năm lần bảy lượt tôi được Đoàn trường gọi lên yêu cầu tôi không được ở cùng các bạn học mà tôi đã ở từ năm thứ nhất (1973). Lý do là họ con Đại tá, Trung tá ‟Ngụy”, còn tôi được xem là con gia đình cách mạng. Tôi đã không chịu, vẫn ở với nhau cho đến ngày ra trường. Có lẽ đó là một lý do để tôi không được vào Đoàn, Hội gì hết!

Vậy đó, cho đến ngày Đà Nẵng nhốn nháo chờ quân giải phóng vào thành. Gia đình tôi hết sức căng thẳng vì sợ ba tôi bị thủ tiêu trước khi chế độ cũ sụp đổ. May mắn việc đó đã không xảy ra dù ba tôi đúng là có trong danh sách cần giải quyết trước khi rút chạy. Tôi còn nhớ vào khoảng ngày 26/3/1975, ông Đại tá Toàn đã lái xe về nhà tôi, đòi gặp ba tôi cho được và chỉ để đặt ra một câu hỏi là ‟tôi nên ở lại hay nên di tản?” Câu hỏi đặt ra vào lúc cận kề nhưng với quyền lực, khả năng của ông ta thì việc ra đi, di tản như thò tay vào túi lấy món vật nhỏ. Thời điểm ấy, với tấm lòng thành thực, niềm tin và sự hứng khởi cách mạng thành công đã gần kề, ba tôi đã không ngần ngại trả lời, ‟ở lại thôi Bác ạ, Hoà bình rồi, đất nước của mình làm lấy mà ăn chứ chạy đi đâu!” Ông Đại tá đã đồng tình, ‟đúng rồi, tôi đã đi Mỹ học, đã làm việc nhiều năm với Mỹ, tôi hiểu thân phận người mình khi đi tản như vậy.”

Điều ông còn băn khoăn là liệu có sự trả thù hay lỡ ra vô tình bị quét chung với tàn quân không? Bằng tất cả tấm lòng và sự hiểu biết qua tài liệu tuyên truyền, ba tôi bảo đảm sẽ không có sự trả thù, sẽ sớm ổn định để mọi người dân bình đẳng như nhau sống và làm việc trong chế độ mới! Tội nghiệp cho ba tôi; ông đã bảo đảm một điều quá sức mình với lòng tin trong sáng, thơ ngây đầy tính nhân văn mà tôi nghĩ hầu hết người miền Nam vào lúc ấy đều chung cách suy nghĩ ấy cho dù mỗi người lo âu mỗi cách, và dù hoàn cảnh có khác biệt nhau. Cho đến sau này nhiều năm, ba tôi vẫn giữ niềm ân hận, ray rứt trong lòng cho đến lúc gặp lại người bạn cũ từ trại cải tạo trở về.

Ông Đại tá và gia đình đã ở lại Đà Nẵng, không di tản theo đoàn quân thất trận dù cho đến lúc cuối cùng của Đà Nẵng, ông cũng đủ sức lo một chổ an toàn cho cả gia đình ông trên chuyến tàu Trường Thành còn neo ở cảng Đà Nẵng khi quân ‟giải phóng” tiến vào. Để an toàn trong cơn biến loạn ấy, ông đưa vợ con về nhà tôi ở từ tối ngày 28/3 cho đến 3-4/4 mới trở về nhà sau khi đã đi đăng ký tại Ủy ban Quân quản.

Tan nát, chỉ có thể nói đúng tận cùng nghĩa tan nát sau khi ông Đại tá lên đường đi học tập cải tạo với lời hứa hẹn chỉ tập trung học trong vòng 15 ngày trở lại. Năm đầu tiên, gia đình ông còn được ở trong khu gia binh cũ. Đối phó với cái ăn, cái mặc của một gia đình lính không nhiều của ăn của để và không quen xoay xở, chạy chợ là vô cùng vất vả,tối tăm. Các con phải bỏ học gần hết do cha ở cấp bậc ấy và được liệt vào loại có nợ máu. Mô Phật, lạy Chúa, Tôi biết cả gia đình này chưa từng dám cắt cổ một con gà, bản thân ông học hết trường này đến trường khác, máu me nào mà nợ. Nhưng thôi, trong một nghĩa nào đó của người thắng trận, tham gia, tiếp tay cho quân đội ‟Ngụy” là đã vay nợ hay dây nợ rồi! Thời gian này gia đình tôi chỉ biết lui tới, an ủi và đau khổ nhìn họ ngày càng khó khăn, bế tắc.

Sang đến năm thứ hai, khu gia binh này được trưng dụng, có lẽ để làm nhà ở cho đoàn quân vào tiếp thu, xây dựng xã hội mới. Gia đình ông Đai tá có tên đi kinh tế mới đầu tiên của Đà Nẵng. Và một buổi chiều sập tối cả gia đình cùng một số hoàn cảnh tương tự được bỏ xuống một khu rừng hoang vu như chưa hề có bóng người ở, sau này đặt tên là khu kinh tế mới Khuê Ngọc Điền. Lương ăn được phát cho 30 ngày gạo, vài chiếc rựa… không nhà, không điều kiện sống mà tất cả phải tự làm lấy. Tan nát, tan nát, còn chữ nào hơn không khi một cậu con trai sau một thời gian lao động bị nhiễm trùng uốn ván, không phương tiện chạy chữa đã chết. Cô gái đến tuổi cập kê, đẹp như Đức Mẹ ngày xưa đã lấy một chàng thợ mộc làng cho xong một đời. Nhưng cũng không xong; đẻ hai đứa con, chàng thợ mộc rượu chè, đổ đốn, cô gái trẻ một mình vác hai con về mẹ dù khó khăn cùng khó. Những người con khác làm rẫy kiếm sông cho qua kiếp người vẫn hy vọng bố về. (Những chuyện này được kể khi tôi gặp lại năm 1991). Gia đình tôi biệt tin, mất liên lạc nhiều năm vào giai đoạn cả nước khổ lo cơm áo.

Năm 1991, tôi làm thanh niên xung phong xây dựng kinh tế, đưa quân len Buôn Mê Thuộc xây mấy cái kho bạc cho nhà nước; tôi vẫn cố tâm tìm cho được gia đình ông Đại tá ở đâu đó vùng này. Thời may, anh thợ mộc (chồng cô con gái như Đức Mẹ ấy, lúc ấy vẫn còn sống với nhau) lại xin làm chổ công trình. Lân la dò mãi tôi tìm được gia đình ấy; lúc bấy giờ nhờ phong trào khai khẩn làm cây cà phê, anh con trai đầu và bà mẹ khuê các năm xưa kịp làm được chục hecta cà phê nên cuộc sống bắt đầu khá lên. Gặp nhau chỉ có nước mắt, không lời than vãn, không trách cứ ai, họ làm và chờ ngày ông Đại tá ra tù.

Ba năm sau, tôi gặp lại ông Đại tá ngày nào. Già, gầy nhưng hình như có điều gì đó tan vỡ trong ông? Ông hỏi tôi giờ này ông còn làm được gì, và cười buồn yên phận người nông dân.


Nguồn: Hòa giải, hòa hợp?. Nguyen Trung dan. Facebook. 1/05/2014